Theo tính toán của ITC dựa trên số liệu thống kê của Hải quan Thái Lan, cá nguyên con đông lạnh (HS 0303) là nhóm sản phẩm có giá trị NK cao nhất trong cơ cấu NK thủy sản tươi, đông lạnh của Thái Lan năm 2015, chiếm từ 60-70% tổng giá trị NK. Trong đó, chủ yếu là sản phẩm cá ngừ vằn (HS 030343); cá ngừ vây vàng (HS 030342), cá biển đông lạnh (HS 030389), cá hồi, cá sardine…
Sau nhóm sản phẩm cá nguyên con, đông lạnh (HS 0303) là nhóm hàng nhuyễn thể (HS 0307), chiếm 14-15,5% tổng giá trị NK, trong đó chủ yếu là mực, bạch tuộc.
Cá tra phile đông lạnh là sản phẩm có giá trị NK lớn nhất trong nhóm sản phẩm cá phile đông lạnh (HS 0304), chiếm từ 19-21% tổng giá trị NK của nhóm sản phẩm này. Theo thống kê của Hải quan Thái Lan, năm 2015, giá trị NK sản phẩm cá tra phile đông lạnh từ Việt Nam cũng tăng 12,3% so với năm 2014.
Cá tra phile Việt Nam chiếm tỷ trọng cao nhất trong nhóm cá thịt trắng NK của Thái Lan và chiếm từ 56-68% tổng giá trị NK cá thị trắng của nước này. Năm 2015, Thái Lan cũng tăng cường NK một số sản phẩm cá thịt trắng khác (ngoài cá tra) như: Thịt cá Alaska Pollack đông lạnh (HS 030494); Cá Cod phile, đông lạnh (HS 030471); Cá rô phi phile, đông lạnh (HS 030461); Cá rô phi đông lạnh (HS 030323) và giảm NK Cá Cod đông lạnh; Cá Alaska Pollack phile, đông lạnh; Cá Alaska Pollack đông lạnh.
Cho dù năm 2015, giá trị NK một số sản phẩm cá thịt trắng của Thái Lan tăng hơn so với năm 2014 nhưng so với giá trị NK sản phẩm cá tra phile đông lạnh tỷ trọng không đáng kể. Cho đến nay, Việt Nam vẫn là nguồn cung lớn nhất sản phẩm cá thịt trắng cho thị trường Thái Lan. Dự báo trong năm 2016, ngoài tăng giá trị NK mặt hàng nhuyễn thể (bao gồm mực, bạch tuộc) từ Việt Nam và Ấn Độ, Trung Quốc, các DN Thái Lan cũng tăng cường NK sản phẩm cá tra đông lạnh và một số loài cá thịt trắng. Do đó, giá trị XK cá tra sang Thái Lan trong năm nay có khả năng tăng thêm từ 10-15% so với năm 2015.