Liều lượng của probiotics từ Clostridium butyricum cho tôm thẻ

Một báo cáo mới đây vừa cho thấy vai trò toàn diện của probiotics mới trên tôm thẻ và cho biết chính xác liều lượng sử dụng để đem lại hiệu quả tối ưu.

Liều lượng của probiotics từ Clostridium butyricum cho tôm thẻ
Sử dụng chính xác liều lượng giúp probiotics đạt được hiệu quả tối ưu. Ảnh: NN/Tép Bạc

Tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (Litopenaeus vannamei) là loài nuôi chính trong nhiều năm ở Trung Quốc, Ấn Độ cũng như Việt Nam. Tuy nhiên dịch bệnh trên tôm đang bùng phát khá phức tạp làm ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kinh tế của ngành tôm. Bệnh là kết quả của sự tương tác phức tạp 3 nhân tố vật chủ, môi trường và mầm bệnh, trong đó khả năng đề kháng với mầm bệnh được coi là yếu tố quan trọng đối với một loài nuôi. Do đó bên cạnh việc cải tiến kỹ thuật nuôi, nuôi tôm khép kín đảm bảm an toàn sinh học thì những biện pháp giúp cải thiện miễn dịch của tôm cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

Cải thiện miễn dịch cho tôm bằng nhiều biện pháp như sử dụng chất kích thích miễn dịch như β-glucan, quercetin, MOS (Mannan Oligosaccharide)…và có một phương pháp phổ biến là sử dụng probiotics cho tôm. 

Probiotics từ Clostridium butyricum 

Clostridium butyricum là vi khuẩn kỵ khí bắt buộc, gram dương, thường được tìm thấy trong đất và phân và hệ vi khuẩn đường ruột của người và động vật.

So với các chế phẩm sinh học khác như Bacillus, Lactobacillus và nấm men thì C. butyricum có khả năng chịu được môi trường có độ pH, nhiệt độ cao hơn và chịu được nhiều loại kháng sinh. Chúng đã được sử dụng như một probiotic cộng sinh quan trọng để phòng ngừa các bệnh đường ruột của con người và thú y (Liao và cộng sự, 2015a, b). Nhiều báo cáo cho thấy rằng C. butyricum có thể duy trì hoặc khôi phục lại cộng đồng vi khuẩn có lợi, và ngăn ngừa hoặc sửa chữa sự mất cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột (Zhang et al., 2012).

Ngoài ra, C. butyricum cũng có thể sản xuất một số chất chuyển hóa có thể ức chế vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào đường ruột, chẳng hạn như bacteriocin (Clarke và Morris, 1976) và axit lipoteichoic (Gao et al., 2011). Các axit béo mạch ngắn, đặc biệt là axit butyric được sản xuất bởi C. butyricum có thể cung cấp các chất dinh dưỡng cho quá trình tái tạo và sửa chữa tế bào biểu mô ruột (Pryde et al., 2002).

Là một phụ gia thức ăn, C. butyricum đã được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia súc và gia cầm tuy nhiên, vẫn còn ít nghiên cứu về ứng dụng của nó trong động vật thủy sản được báo cáo. Duan et al. (2017) đã đánh giá ảnh hưởng của chế độ ăn uống C. butyricum dưới dạng bào tử trên sự tăng trưởng, và chủ yếu tập trung vào tình trạng sức khỏe ruột, chức năng miễn dịch ruột và phản ứng của chúng đối với stress amoniac của tôm thẻ chân trắng. Tuy nhiên, vai trò dinh dưỡng của probiotics từ C. butyricum đối với đáp ứng miễn dịch của huyết thanh, và các cơ quan miễn dịch chính trong tôm vẫn chưa chắc chắn và thiếu thông tin hỗ trợ. Do đó nghiên cứu này đánh giá hiệu suất tăng trưởng, miễn dịch không đặc hiệu, mô học đường ruột và khả năng kháng bệnh của tôm thẻ Litopenaeus vannamei được nuôi bằng chế độ ăn bổ sung tế bào sống của Clostridium butyricum.

Bổ sung Clostridium butyricum trên tôm thẻ

Nghiên cứu này được xây dựng trong 42 ngày, với chế độ ăn thử nghiệm và 14 ngày tiếp theo thách thức với mầm bệnh Vibrio parahaemolyticus để xác định ảnh hưởng của Clostridium butyricum CBG01 trên tôm thẻ Litopenaeus vannamei (trọng lượng ban đầu 1,60 ± 0,02g). 

Tôm được cho ăn với bảy chế độ ăn thử nghiệm có chứa liều lượng khác nhau như sau:


C. butyricum được phun đồng đều trên thức ăn cho tôm, sau đó được đóng gói với hỗn hợp dung dịch natri alginate và dầu cá và sấy khô trong bóng râm. Tất cả các chế độ ăn thử nghiệm được chuẩn bị hàng ngày và cho tôm ăn trong vòng 2 giờ để đảm bảo sức sống của C. butyricum.


Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng và tăng trọng của tôm ở nhóm LE và LF được cải thiện đáng kể trong khi tỷ lệ chuyển hóa thức ăn FCR cho tất cả các nhóm bổ sung probiotics từ C. butyricum giảm đáng kể so với đối chứng (P <0,05).


Ảnh hưởng của chế độ ăn uống C. butyricum đến số lượng và chiều cao của nhung mao ruột được thể hiện. Chiều cao của nhung mao ruột tôm ở tất cả các nhóm điều trị cao hơn đáng kể so với đối chứng ( P  <0,05), và ở nhóm LE và LF cao hơn đáng kể so với các nghiệm thức khác ( P  <0,05). Chứng tỏ thức ăn bổ sung với chế phẩm sinh học có thể thay đổi hình thái của ruột của tôm. Do đó, có thể việc tăng cường hiệu suất sinh trưởng và giảm FCR trên tôm là do sự thay đổi hình thái của ruột và cải thiện chức năng hấp thu đối với các chất dinh dưỡng khác nhau. 

Các hoạt động miễn dịch của tôm trong nhóm LE và LF đều được tăng cường đáng kể (P <0,05). Mức độ biểu hiện của các yếu tố miễn dịch trong cơ quan lymphoid của tôm của các nhóm LC, LD, LE và LF cao hơn so với nhóm không bổ sung (P <0,05).

Sau khi thách thức với vi khuẩn gây bệnh là V. parahaemolyticus thì mức độ biểu hiện gen miễn dịch trong LE và LF được điều chỉnh lên đáng kể và tỷ lệ tử vong tích lũy của tôm ở LD, LE và LF thấp hơn đáng kể so với đối chứng (P <0,05).

Sự tăng cường sinh trưởng và miễn dịch của tôm thẻ bởi probiotic từ C. butyricum phụ thuộc vào liều lượng bổ sung vào chế độ ăn. Với liều từ 10 11 và 10 12  cfu C. butyricum/kg bổ sung vào thức ăn có thể cải thiện đáng kể hiệu suất sinh trưởng và khả năng miễn dịch của tôm thẻ L. vannamei , cũng có tác động tích cực đến cấu trúc hình thái đường ruột. Hơn nữa, bảo vệ chống lại V. parahaemolyticus cũng tăng lên với sự gia tăng trong việc thêm liều, và sự bảo vệ tốt nhất đã được quan sát thấy trong tôm cho ăn một chế độ ăn có chứa C. butyricum ở 1012 cfu / kg. 

Vì vậy, khi xem xét yếu tố tăng trưởng, khả năng miễn dịch, và khả năng kháng bệnh thì liều 10 11-12 cfu /kg thức ăn của probiotics từ C. butyricum CBG01 được khuyến khích sử dụng cho tôm thẻ dựa trên kết quả từ nghiên cứu của Hai-dong Li, Xiang-Li Tiang 2018.


Đăng ngày 05/11/2018
VĂN THÁI (Lược dịch)
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Tủ xét nghiệm PCR di động: Phát hiện sớm mầm bệnh đốm trắng, vi bào tử trùng (EPH) ngay tại bờ ao

Sự xuất hiện của tủ xét nghiệm PCR di động đang mang công nghệ sinh học đỉnh cao từ phòng thí nghiệm ra trực tiếp hiện trường, giúp người nuôi tôm phát hiện sớm các mầm bệnh nguy hiểm. Giải pháp chủ động này giúp cắt đứt chuỗi lây nhiễm giấu mặt ngay từ những ngày đầu, bảo vệ thành quả của cả một vụ mùa đầu tư hàng tỷ đồng.

tủ xét nghiệm bệnh
• 17:30 18/03/2026

Hiệu quả nuôi cá mú trân châu thương phẩm: Từ giống đến thu hoạch

Cá mú trân châu (cá mú lai) đang trở thành đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế cao tại nhiều địa phương ven biển Việt Nam. Nhờ tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao và chất lượng thịt ngon, loài cá này được nhiều hộ nuôi lựa chọn phát triển trong các hệ thống nuôi lồng bè trên biển và ao đất ven bờ.

cá mú trân châu
• 19:15 11/03/2026

Giảm phụ thuộc Artemia trong sản xuất tôm giống: Xu hướng mới của các trại giống

Artemia từ lâu được xem là nguồn thức ăn sống quan trọng trong sản xuất giống tôm và cá biển. Tuy nhiên, chi phí cao, biến động chất lượng và rủi ro an toàn sinh học đang khiến nhiều trại giống tìm kiếm các giải pháp thay thế hoặc giảm phụ thuộc vào nguồn thức ăn này.

tôm
• 12:00 11/03/2026

Ao nổi lót bạt HDPE cùng rốn xả xi-phông giải pháp chủ động phòng ngừa dịch bệnh

Sự chuyển dịch từ ao đất truyền thống sang mô hình ao nổi lót bạt kết hợp rốn xả xi-phông đang trở thành cuộc cách mạng công nghệ trong ngành chăn nuôi thủy sản. Hệ thống thiết kế khép kín này không chỉ giải quyết triệt để bài toán ô nhiễm môi trường nước mà còn là chìa khóa vàng giúp người nông dân kiểm soát hoàn toàn rủi ro dịch bệnh.

ao bạc
• 19:00 10/03/2026

Phụ thu 10% và những điều chỉnh tức thời của thị trường nhập khẩu thủy sản tại Hoa Kỳ

Chính sách phụ thu nhập khẩu 10% của Hoa Kỳ đang tạo ra nhiều biến động đối với thị trường thủy sản toàn cầu, buộc các nhà nhập khẩu phải nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh doanh, chuỗi cung ứng và cấu trúc chi phí. Diễn biến này được dự báo sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 2026.

chế biến thủy sản
• 17:17 18/03/2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời cử tri TP.HCM về giải pháp ngăn thực phẩm bẩn

Trước lo ngại về tình trạng sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, thủy sản và thực phẩm không rõ nguồn gốc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường hậu kiểm và xử lý nghiêm vi phạm để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

cá
• 17:17 18/03/2026

Làm Thế Nào Để Một Trang Trại Cá Có Thể Kiếm Được Lợi Nhuận?

Lợi nhuận trong nuôi cá không đến từ việc cắt giảm chi phí bằng mọi giá, mà đến từ khả năng tối ưu biên lợi nhuận trên mỗi kilogram cá bán ra. Điều này phụ thuộc vào ba yếu tố cốt lõi: lựa chọn loài nuôi, phương thức nuôi và chiến lược thức ăn.

• 17:17 18/03/2026

Xung Đột Trung Đông Leo Thang: Chuỗi Cung Ứng Thủy Sản Việt Nam Đối Mặt Rủi Ro Lớn

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), Trung Đông đang nổi lên là một trong những thị trường tăng trưởng đáng chú ý của thủy sản Việt Nam.

cảng
• 17:17 18/03/2026

Chuyển giao công nghệ tạo giống tôm kháng bệnh (SPR)

Việc chuyển giao thành công kỹ thuật chọn giống kháng bệnh chính là chìa khóa giải quyết triệt để rủi ro từ gốc rễ, thay vì thụ động chạy chữa bằng hóa chất như trước đây.

tôm
• 17:17 18/03/2026
Some text some message..