Artemia có thật sự là vector gây bệnh EHP trên tôm nuôi hay không?

Gần đây, một bài báo cáo khoa học của K. Karthikeyan và R. Sudhakaran đăng trên tạp chí Biocatalysis and Agricultural Biotechnology vào tháng 5 năm 2020 đã được lược dịch và đăng trên Tepbac với tiêu đề tiếng việt là “Artemia - Vật chủ lây nhiễm EHP trên tôm?” với mục đích cung cấp thông tin từ kết quả nghiên cứu của hai tác giả trên là Artemia có thể là “tác nhân trung gian” (vector) cho sự lan truyền của Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) trên tôm he. Rất tiếc bài lược dịch đã gây nhiều hiểu lầm và tranh cãi. Có thật sự Artemia là “vật chủ trung gian” truyền EHP cho tôm không?

antpk
Artemia. Ảnh: antpk

Artemia
Artemia được sử dụng phổ biến trong nuôi trồng thủy sản. Ảnh: antpkr

Tepbac với vai trò là người dịch thuật và truyền tải thông tin bài báo cáo đến bạn đọc. Về mặt lý thuyết, bài lược dịch không sai so với bài báo cáo gốc. Nhưng sau khi trao đổi và nhận được sự góp ý của các chuyên gia, thì rõ ràng bài báo cáo có tính áp đặt về phương pháp nghiên cứu, rồi căn cứ vào đó mà kết luận không chính xác, dẫn đến những hiểu lầm nghiêm trọng.

Trước hết, bài báo cáo tiến hành tự gây nhiễm EHP cho Artemia, sau đó cho tôm ăn những con Artemia này, rồi khẳng định Artemia là “Vật chủ lây nhiễm EHP” là không chuẩn xác. Vì nếu là “Vật chủ mang mầm bệnh” thì Artemia phải được chứng minh là dương tính với EHP ngay từ các mẫu trứng nghỉ thương mại. Trong thí nghiệm này, Artemia đúng hơn phải được gọi là “Tác nhân trung gian (vector) chuyển giao mầm bệnh trong thí nghiệm” thay vì “Vật chủ trung gian truyền bệnh”. Đặt trường hợp, gây nhiễm trực tiếp cho tôm thì tôm cũng sẽ nhiễm EHP, nên không cần thiết phải có vector là Artemia rồi đưa ra kết luận không chính xác. Dưới đây là một số lý do giải thích thêm việc Artemia không thể nhiễm mầm bệnh từ giai đoạn trứng và trở thành vector truyền bệnh.

Loài giáp xác chịu mặn rất cao!

Artemia là sinh vật thuộc chi giáp xác thủy sinh, “con tôm nước mặn” (brine shrimp) này có một điểm rất đặc biệt đó là sống và sinh sản trong môi trường có độ mặn rất cao. Nhờ sự thích nghi đáng nể này mà chúng còn được gọi là  “tôm đồng muối”. 

Trong tự nhiên, chúng sống trong các hồ nước mặn. Chúng gần như không bao giờ được tìm thấy trong một vùng biển rộng, rất có thể vì thiếu thức ăn và tự vệ. Chúng có thể tồn tại ở độ mặn 35‰ nhưng không thể tự vệ và cạnh tranh thức ăn với các loài khác. Nên thực tế, chúng chủ yếu sống ở độ mặn > 70‰. Đây là “môi trường cấm”, nơi các sinh vật ăn Artemia không thể tồn tại.

Artemia
Artemia là sinh vật thuộc chi giáp xác thủy sinh.

Với khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu đáng kinh ngạc, việc sống trong nước có độ mặn cao giúp Artemia hình thành một hàng rào sinh thái bảo vệ chúng hiệu quả trước sự tấn công của các mầm bệnh. Đồng thời, điều này giúp việc nuôi Artemia độc canh dễ dàng hơn, do rất khó gặp một sinh vật ngoại lai nào xuất hiện ở môi trường khắc nghiệt này.

Khi tồn tại trong điều kiện độ mặn như thế từ giai đoạn đầu của sự sống thì liệu Artemia có thể nhiễm mầm bệnh không?

Sự sinh sản đặc biệt của Artemia trong điều kiện rộng muối

Artemia cái có thể sản xuất trứng theo 2 hình thức: giao phối (mating) với con đực và sinh sản đơn tính (parthenogenesis – phôi phát triển từ trứng không được thụ tinh). Artemia cái cũng có thể đẻ trứng (oviparous reproduction) hay đẻ con (ovoviviparous reproduction).

Đẻ trứng: Trong điều kiện thuận lợi, Artemia có thể tạo ra các trứng thụ tinh vỏ mỏng (thin-shelled eggs) và gần như nở ngay lập tức. Mỗi Artemia cái có thể đẻ 1.500 – 2.500 trứng/lần. Nhưng trong điều kiện khắc nghiệt, chẳng hạn như khi oxy thấp hoặc độ mặn trên 150‰, Artemia cái sinh ra trứng thụ tinh vỏ dầy (thick-shelled eggs) với lớp phủ màu nâu gọi là “trứng nghỉ” hay có tên gọi khác là “trứng bào xác”. Những trứng này không hoạt động về mặt trao đổi chất và có thể duy trì trạng thái phôi ngủ đến hai năm ở nhiều điều kiện môi trường khác nhau. Cho đến khi gặp môi trường thuận lợi, các trứng bào xác chìm vào nước biển, phôi bắt đầu sự chuyển hóa để phát triển trở lại. Vì thế sau khi ấp trứng bào xác Artemia trong nước biển có sục khí nhẹ khoảng 20 giờ, trứng nở thành ấu trùng nauplius.

Đẻ con: trứng thụ tinh sẽ phát triển thành ấu trùng nằm trong dạ con, sau đó được con cái phóng thích ra ngoài môi trường nước.


Quá trình phát triển Artemia. Ảnh: vaquariume.ru

Như vậy, Artemia có thể sinh sản bằng 2 phương thức, tùy vào điều kiện môi trường sống. Trứng nghỉ được sinh ra trong điều kiện độ mặn cao đến thế nên thực tế rất khó có khả năng mang mầm bệnh. Vấn đề đặt ra là khả năng Artemia trở thành vật chủ trung gian mang mầm bệnh EHP cho tôm nuôi là có thực tế không? 

Artemia làm thức ăn cho tôm giống và tôm thương phẩm

Việc sử dụng Artemia làm thức ăn cho các sinh vật ấu trùng bắt đầu vào khoảng những năm 1930, khi đó một số báo cáo chứng minh chúng đã trở thành nguồn thức ăn tuyệt vời cho ấu trùng cá mới nở. Kể từ giữa thập niên 1980, lượng tiêu thụ Artemia đã tăng lên vài trăm tấn mỗi năm do sự mở rộng trên toàn thế giới về nuôi ấu trùng cá biển, tôm biển. Đến nay, Artemia được sử dụng cho nhiều đối tượng ấu trùng thủy sản như tôm (cả tôm nước ngọt lẫn tôm nước mặn), cua, cá cảnh, cá chẽm,... do giá trị dinh dưỡng cao, giàu đạm, chứa nhiều acid béo không no, vitamin và khoáng chất tốt cho giai đoạn sinh sản và tạo sắc tố cho cơ thể tôm cá.


Nang Artemia. Ảnh:Vpas

Tôm thương phẩm nuôi ở giai đoạn đầu vẫn thường được cho ăn sinh khối Artemia từ ba đến bảy ngày sau khi thả giống. Mặc dù không thể loại trừ khả năng mang mầm bệnh, nhưng đến nay vẫn chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh trong nuôi tôm thương phẩm, mầm bệnh từ tôm truyền sang Artemia rồi từ đó lây nhiễm sang những con tôm khỏe khác trong hệ thống nuôi.

Artemia cũng là sinh vật được dùng làm “vật nhồi sinh học”. Có nghĩa là người ta đưa các chất dinh dưỡng, thuốc hóa chất hay cả mầm bệnh (ký sinh trùng, Vibrio,…) vào cơ thể Artemia bằng nhiều cách rồi sau đó, thông qua cho ăn, để vật nuôi nhận các chất dinh dưỡng, hóa chất đó hoặc bị nhiễm mầm bệnh được chỉ định từ Artemia trên, để phục vụ cho các nghiên cứu khoa học.

Khả năng lây nhiễm và truyền bệnh của Artemia

Rất nhiều nghiên cứu về khả năng lây nhiễm mầm bệnh của Artemia đã được thực hiện. Từ năm 2011, một số thử nghiệm về sự truyền lây bệnh do Vibrio gây ra từ Artemia sang tôm. Nhưng ở đây, Artemia đóng vai trò là “vật nhồi sinh học” chứ không phải đã nhiễm bệnh từ ban đầu. 

 Artemia
 Artemia là nguồn thức ăn cần thiết trong quá trình phát triển của ấu trùng tôm, cá. Ảnh: kendoNice

Đến năm 2020, thử nghiệm của K. Karthikeyan và R. Sudhakaran (bài dịch gây nhiều hiểu lầm tranh cãi đã được nhắc đến ở đoạn đầu) cũng dùng Artemia làm “vật nhồi sinh học”, gây nhiễm nhân tạo EHP cho chúng chứ không hề có bằng chứng Artemia dương tính với EHP từ giai đoạn trứng nghỉ.

Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có bằng chứng nào trong thực tế các trại nuôi cho thấy Artemia bị nhiễm bệnh từ giai đoạn trứng hay tôm bị nhiễm mầm bệnh từ Artemia truyền sang. Các nghiên cứu hiện tại chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, nên cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn. Do đó, Artemia với nguồn dinh dưỡng tuyệt vời, vẫn là nguồn thức ăn cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của ấu trùng tôm, cá nhưng cũng cần được quan tâm đến chất lượng và quản lý phòng ngừa mầm bệnh.

Nguồn: K. Karthikeyan và R. Sudhakaran, 2020. Exploring the potentiality of Artemia salina to act as a reservoir for microsporidian Enterocytozoon hepatopenaei of penaeid shrimp. Biocatalysis and Agricultural Biotechnology 25 (2020) 101607. DOI: 10.1016/j.bcab.2020.101607.

Đăng ngày 10/06/2022
Admin @admin
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh thủy sản

Một trong những giải pháp được đánh giá cao hiện nay là ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh cho tôm, cá. Đây không chỉ là hướng đi thay thế hóa chất truyền thống mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam.

chế phẩm sinh học thủy sản
• 00:00 21/02/2026

Bỏ túi bí quyết giảm hệ số FCR xuống dưới 1.2 mà không cần đổi loại thức ăn

Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm và cá thâm canh, thức ăn thường chiếm 50–65% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không chỉ là một chỉ số kỹ thuật mà còn là thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế. Chênh lệch 0,1 FCR ở quy mô vài chục tấn có thể tạo ra khoảng cách lợi nhuận rất lớn.

tôm
• 10:00 14/02/2026

Chủ động phòng bệnh TiLV – bảo vệ đàn cá rô phi ngay từ đầu vụ

Tilapia Lake Virus (TiLV) đang được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với ngành nuôi cá rô phi toàn cầu. Virus này có thể gây tỷ lệ chết lên tới 80–90%, lây lan nhanh và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

cá rô phi
• 12:00 11/02/2026

Những nguyên tắc nền tảng trong nuôi tôm

Nuôi tôm không phải là việc dễ dàng – nhưng việc thực hiện đúng các bước căn bản có thể giúp ao nuôi của bạn đạt năng suất cao và sạch bệnh.

tôm
• 12:00 08/02/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 23:33 21/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 23:33 21/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 23:33 21/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 23:33 21/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 23:33 21/02/2026
Some text some message..