Mật độ nuôi tôm thẻ chân trắng trên ao cát lót bạt

Gamal M. Samadan và cộng sự 2018 đã tiến hành các thí nghiệm để đánh giá mật độ tôm phù hợp cho mô hình nuôi tôm trên cát ở Purworejo, Trung Java, Indonesia. Kết quả nghiên cứu được đăng trên tạp chí Fisheries and Aquaculture Journal.

Mật độ nuôi tôm thẻ chân trắng trên ao cát lót bạt
Nuôi tôm ở mật độ thích hợp giúp quản lý tốt dịch bệnh. Ảnh minh họa: LL/Tép Bạc

Vùng đất cát ven biển chủ yếu là đất có đặc điểm kết cấu cát, axit hơi trung tính pH (5.7-7.0), độ dẫn điện thấp và độ thấm nước cao. Nguồn nước ngọt bổ sung cho ao nuôi tôm hầu hết đến từ nguồn nước ngầm với đường ống ở độ sâu từ 20m - 40m, do đó chất lượng nước phụ thuộc vào điều kiện của thổ nhưỡng của đất xung quanh. Và nếu các giếng quá sâu, thì thành phần hóa học của nước sẽ mất cân đối với nước biển.

Nông dân nuôi tôm ở các mật độ khác nhau, tùy thuộc vào kinh nghiệm cá nhân hoặc bạn bè đã thành công với những vụ nuôi trước. Một số nông dân thả mật độ giống cao để có được sản lượng và lợi nhuận cao. Tuy nhiên, mật độ cao sẽ sử dụng nhiều tài nguyên hơn và có tác động bất lợi đến môi trường. Ngoài ra, việc xử lý chất thải từ siphon và thải trực tiếp ra khu vực xung quanh ao mà không cần xử lý gây ô nhiễm nước ngầm mà còn góp phần lây lan dịch bệnh. Do đó nuôi tôm thẻ chân trắng được quản lý tốt có thể mang lại lợi ích về kinh tế cũng như bảo vệ môi trường. Quản lý tốt bao gồm xử lý chất thải trước khi xả thải, hạn chế lãng phí nguồn nước ngầm và mật độ thả nuôi hợp lý.

Mật độ nuôi tôm tối ưu đã được báo cáo rộng rãi mặc dù có sự khác biệt về loài như Farfantepenaeus paulensis , Penaeus semisulcatus , P. indicus , Fenneropenaeus merguiensis và P. monodon. Tuy nhiên cho đến nay, mật độ tối ưu của nuôi tôm thẻ chân trắng trên ao cát lót bạt vẫn chưa được biết đến. Do đó, nghiên cứu này được tiến hành để xác định ảnh hưởng của mật độ thả giống đối với sinh trưởng, tỷ lệ sống và sinh khối của tôm thẻ chân trắng trong các ao cát lót bạt.

Mật độ nuôi tôm trên ao cát lót bạt

Nghiên cứu này của Gamal M. Samadan và cộng sự 2018 nhằm xác định hiệu quả sản xuất tôm thẻ chân trắng với mật độ thả giống khác nhau.

Thí nghiệm được tiến hành bằng cách sử dụng 9 ao và với mật độ tôm 100, 200 và 300 con/m2 với ba lần lặp lại. Cho ăn với hàm lượng protein 30% với 3% sinh khối mỗi ngày. Vitamin C và protein omega được sử dụng bổ sung vào chế độ ăn của tôm. Tần suất cho ăn là 4 lần/ngày vào lúc 07.00, 11.00, 15.00 và 20.00. Thức ăn đầu tiên trộn với vitamin C (10 g thức ăn: 0,1 g vitamin C) vào buổi sáng và protein omega (10 g thức ăn: 0,1 g protein omega) vào buổi chiều. Thức ăn được cho bằng cách trải rộng trên mặt ao, đặc biệt là ở rìa ao. Trao đổi nước được thực hiện định kỳ với 10% khối lượng của mỗi ao để duy trì chất lượng của nước ao. Quá trình trao đổi nước đã được thực hiện cùng với quá trình siphon chất thải ở đáy ao. Cả hai quá trình này được thực hiện sau 25 ngày nuôi tôm đầu tiên và sau đó tiếp tục mỗi tuần 1 lần cho đến khi thu hoạch.

Các thông số như nhiệt độ, độ trong, pH, DO và độ mặn được đo lại hàng ngày, trong khi các thông số sinh học nitrat, nitrit, amoniac và tôm được quan sát, theo dõi 2 tuần một lần.

Kết quả:

Kết quả cho thấy các thông số về độ mặn, pH, nitrit và nitrat không khác biệt đáng kể trong ba nghiệm thức. Tuy nhiên tham số oxy hòa tan (DO) và amoniac ở nhóm tôm nuôi mật độ 100 con/m2 thấp hơn đáng kể so với các nhóm tôm có mật độ thả là 200, 300 con/m2 và các thông số TOD cũng khác nhau đáng kể giữa các nghiệm thức 100 và 200 (p <0,05). Nồng độ nitrat, nitrit và amoniac tăng theo thời gian, đặc biệt ở nhóm thả mật độ cao hơn, do lượng thức ăn cho tôm ăn nhiều hơn.


Biểu đồ cho thấy tốc độ tăng trưởng ở mật độ tôm thấp thì tốt hơn mật độ cao.


Kết quả cho thấy tỷ lệ sống có sự khác biệt đáng kể giữa ba nghiệm thức (p <0,05). Giá trị của tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) trong thời gian nuôi cũng thay đổi giữa ba nghiệm thức. FCR tăng lên khi mật độ tôm tăng lên. Giá trị FCR nhỏ nhất khi nuôi tôm ở mật độ 100 con/m2 là 1.00 và lớn nhất là mật độ 300 với FCR là 2.0. 

Nhìn từ khía cạnh kinh tế, mật độ thấp tạo ra một kích thước tương đối lớn, và có giá bán cao hơn so với tôm cỡ tôm nhỏ. Bên cạnh đó, mật độ thả giống tối ưu có thể làm giảm chi phí hoạt động canh tác, đặc biệt là thức ăn và chi phí cho máy sục khí. Do đó, nuôi tôm trên cát có thể được áp dụng với mật độ thả là 100 hoặc 200 con/m2 khi được xem xét về tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống và FCR. Tuy nhiên để nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao cát lót bạt cũng được khuyến cáo phải chú ý đến quản lý chất lượng nước, đặc biệt là amoniac, thường xuyên xi phong chất thải và quản lý chất thải thân thiện với môi trường.


Đăng ngày 31/10/2018
VĂN THÁI
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Nhớt bạt ao nuôi tôm, nguyên nhân và cách xử lý

Nhớt bạt ao nuôi tôm là hiện tượng xuất hiện một lớp nhớt mỏng, trơn, màu trắng đục hoặc vàng nâu bám trên bề mặt bạt ao nuôi (đáy và thành ao). Đây là hiện tượng phổ biến trong ao nuôi tôm lót bạt HDPE và thường xảy ra sau một thời gian nuôi hoặc sau khi ao có nhiều chất hữu cơ tích tụ.

Ao tôm
• 14:04 12/01/2026

Tại sao cá lóc hay ăn thịt lẫn nhau? Kỹ thuật lọc cỡ để không bị hao hụt số lượng

Tập tính ăn thịt đồng loại ở cá lóc là nguyên nhân hàng đầu gây hao hụt đầu con trong nuôi thâm canh. Hiểu rõ bản năng săn mồi và áp dụng kỹ thuật lọc cỡ đúng thời điểm là chìa khóa giúp người nuôi bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh giá thức ăn tăng cao.

Cá lóc
• 08:57 08/01/2026

Kiểm chứng các kinh nghiệm truyền miệng trong ngành nuôi tôm

Nuôi tôm là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nơi mỗi biến động nhỏ của môi trường đều có thể dẫn đến thiệt hại vô cùng nghiêm trọng.

Nuôi tôm thẻ
• 11:38 02/01/2026

Ảnh hưởng từ sự dao động pH tưởng chừng vô hại đến gan tụy tôm

Gan tụy tôm không tổn thương đột ngột mà suy yếu dần theo những biến động môi trường rất nhỏ. Trong đó, sự dao động pH tuy không lớn nhưng lại kéo dài chính là yếu tố thường bị người nuôi bỏ qua, tạo tiền đề cho những đợt bùng phát dịch bệnh khó kiểm soát.

Gan tụy tôm thẻ
• 04:54 21/01/2026

Công nghệ nuôi cá trên cạn

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và nguồn lợi thủy sản tự nhiên đang chạm ngưỡng giới hạn, áp lực lên các dòng sông và vùng biển ngày càng lớn.

Nuôi cá
• 04:54 21/01/2026

Xử lý mùn bã hữu cơ đáy ao trong nuôi tôm giữa vụ

Trong giai đoạn giữa vụ nuôi tôm thâm canh, mùn bã hữu cơ tích tụ dưới đáy ao là nguyên nhân chính gây suy giảm oxy, phát sinh khí độc và làm tăng nguy cơ dịch bệnh. Nhận diện sớm và xử lý đúng kỹ thuật lớp mùn bã hữu cơ giúp ổn định môi trường nước và duy trì tốc độ tăng trưởng của đàn tôm.

Nước ao tôm
• 04:54 21/01/2026

Cuộc đổi ngôi ngoạn mục của các thị trường xuất khẩu thủy sản năm 2025

Khép lại năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã ghi nhận con số ấn tượng 11,3 tỷ USD, tăng 12,4% so với năm trước. Thành quả này có được nhờ cuộc bứt tốc mạnh mẽ trong quý IV và sự linh hoạt chiến lược của các doanh nghiệp đầu ngành trước những biến động khó lường của thị trường quốc tế.

Tôm thẻ
• 04:54 21/01/2026

"Quái ngư" miền Trung hình thù kỳ dị, giá tiền triệu vẫn được săn lùng

Sở hữu ngoại hình vuông vức như một chiếc hộp và lớp da cứng như áo giáp, cá bò hòm thường khiến nhiều người lần đầu nhìn thấy phải giật mình. Thế nhưng, trái ngược với vẻ ngoài đáng sợ, loài cá này lại được ví như "gà nước mặn" với hương vị thơm ngon thượng hạng, được giới sành ăn săn lùng dù giá lên tới cả triệu đồng.

Cá bò hòm
• 04:54 21/01/2026
Some text some message..