Một số giải pháp hạn chế sự lây lan bệnh gan thận mủ trên cá tra

Tình hình xuất hiện bệnh do vi khuẩn E. ictaluri Vi khuẩn Edwardsiella ictaluri là tác nhân chính gây ra bệnh gan thận mủ trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi thâm canh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).

ca tra benh gan than mu

Đây là loại vi khuẩn đặc thù gây bệnh chủ yếu trên cá da trơn nuôi công nghiệp. Vi khuẩn E. ictaluri đầu tiên đã phân lập được trên cá nheo Mỹ (Ictalurus furcatus) gây bệnh nhiễm trùng máu, trên cá trê trắng (Clarias batrachus) ở Thái Lan và trên một số loài cá da trơn khác.

Ở nước ta, bệnh này xuất hiện đầu tiên vào mùa lũ năm 1998 ở các tỉnh nuôi cá tra thâm canh phát triển mạnh như: An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ. Sau đó, bệnh lan dần đến các vùng có nuôi cá tra lân cận. Bệnh gan thận mủ thường xuất hiện vào mùa lũ và cao điểm vào tháng 6, 7 và 9 (Sơ đồ 1). Trong 1 chu kỳ nuôi, bệnh mủ gan có thể xuất hiện ít nhất 3-5 lần.  Đặc biệt, những năm gần đây bệnh này đã xuất hiện hầu như quanh năm và đã lây lan khắp các tỉnh có nuôi cá tra ở Việt Nam. Bệnh xuất hiện trên tất cả các giai đoạn phát triển của cá tra, trong đó tỉ lệ hao hụt lớn nhất ở giai đoạn giống, có thể lên đến 50-90%.

luoc do luong mua va benh gan than mu ca tra

Kiểm tra và theo dõi các yếu tố có liên quan đến bộc phát bệnh

Kiểm tra phát hiện bệnh

Trong quá trình nuôi, việc thường xuyên kiểm tra và theo dõi đàn cá nuôi có thể giúp cho người nuôi phát hiện bệnh sớm trước khi cá chết hàng loạt. Một vài dấu hiệu bất thường cần chú ý như: hoạt động của cá thay đổi do bị sốc, cá nổi đầu hay tập trung ở khu vực nước chảy, giảm ăn hoặc bỏ ăn, nhảy lên khỏi mặt nước.

gan ca tra benh gan than mu

Khi cá tra nhiễm bệnh gan thận mủ, người nuôi có thể dựa vào dấu hiệu bệnh lý là những đốm trắng xuất hiện trên gan, thận và tỳ tạng.

Theo dõi sự biến động của các yếu tố môi trường

Mật độ nuôi cao trong các hệ thống nuôi thâm canh làm cho cá bị sốc và gây nên những biến đổi về môi trường tạo điều kiện cho bệnh bộc phát. Sự tích tụ chất thải từ thức ăn dư thừa đều sinh ra độc tố khi phân hủy làm ảnh hưởng trực tiếp đến cá và tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển. Do vậy, người nuôi cần phải thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường như oxy, pH, nhiệt độ, NH3, độ mặn, ... Mỗi hộ nuôi cần có bộ kít đo môi trường và kiểm tra ít nhất 1 lần trong 1 tuần. Nên ghi nhận sự thay đổi của các yếu tố môi trường vào thời điểm giống nhau. Đo các chỉ tiêu môi trường 2 lần trong ngày một lần vào sáng (7 - 8h) và vào chiều mát (5 - 6h).
Người nuôi cần theo dõi hoạt động, biểu hiện của cá trong điều kiện nhiệt độ mà bệnh gan thận mủ dễ bùng phát  (28-30oC). Khi điều kiện môi trường xấu cần đưa ra biện pháp điều chỉnh thích hợp bằng các biện pháp như thay nước mới, kiểm tra độ sâu mực nước, cấp thêm nước vào ao.

Thức ăn cho cá

Chế độ ăn đóng vai trò rất quan trọng làm thay đổi tính mẫn cảm của cá đối với vi khuẩn E. ictaluri gây bệnh gan thận mủ. Cho cá ăn vừa phải, không có cá ăn quá nhiều vì lượng thức ăn dư thải ra môi trường bên ngoài làm tích tụ chất cặn bã gây nên ô nhiễm cho ao nuôi làm cho cá dễ mẫn cảm với sự bộc phát bệnh. Khi cá ở giai đoạn nhỏ (50-80g) cho ăn tối đa khoảng 5% trọng lượng cơ thể, cá lớn khoảng 2% trọng lượng cơ thể. Không cho ăn quá 3 lần trên ngày vào thời điểm nhiệt độ nước thấp nhất, không nên cho ăn vào giữa trưa khi mặt trời lên cao. Khi thấy cá nuôi có những dấu hiệu bất thường, ngưng cho cá ăn hoặc giảm lượng thức ăn có thể là một biện pháp tốt để hạn chế bệnh.

Phòng bệnh lây lan

Cá giống cần được quan sát cẩn thận, mỗi biểu hiện bất thường hoặc triệu chứng bệnh ở cá phải được xử lý kịp thời. Cá giống mua về cần được kiểm tra cẩn thận để loại bỏ những con cá bị xây xát nhiều, nên tắm nước muối 0,5% trong 5-10 phút trước khi thả nuôi. Không nên chọn cá giống đã nhiễm bệnh gan thận mủ.

Khi dịch bệnh xảy ra, việc vứt cá ra sông, chôn hoặc bán cá chết cho những hộ nuôi cá khác đã tạo điều kiện cho bệnh lan tràn từ vùng nuôi này đến vùng nuôi khác ở ĐBSCL. Do vậy, người nuôi cần phải tuyệt đối thực hiện các biện pháp khử trùng ao, các dụng cụ và xử lý cá chết như: (1) Tiệt trùng các dụng cụ (lưới, vợt, sọt, ống dây) bằng Chlorine 10-15 g/m3 trong 30 phút; (2) Cá chết phải vớt ra khỏi ao, bè càng sớm càng tốt, và chôn vào hố cách ly có rải vôi sống  (CaO) để tiệt trùng; (3) Nước thải từ ao cá bệnh cần được xử lý diệt khuẩn trước khi xả ra ngoài.

Cá tra nhiễm bệnh gan thận mủ sẽ mẫn cảm với các bệnh khác như: bệnh do ký sinh trùng, bệnh xuất huyết và bệnh trắng gan, trắng mang, ... do vậy cần tích cực phát hiện bệnh và điều trị càng sớm càng tốt để giảm thiệt hại. Dùng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh. Lựa chọn loại kháng sinh mà vi khuẩn gây bệnh này còn nhạy (dựa vào kết quả kháng sinh đồ).

Tóm lại, việc phòng bệnh ở cá tra phải kết hợp với nguồn cá giống sạch bệnh, quản lý tốt môi trường nuôi và đảm bảo chế độ dinh dưỡng phù hợp. Cần sớm nghiên cứu vaccine phòng bệnh gan thận mủ trên cá tra một cách tích cực và hiệu quả hơn.

UV Việt Nam
Đăng ngày 25/02/2012
Thạc Sỹ T.T.Dung, Khoa TS, ĐHCT
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp: Khác nhau ở đâu và vì sao không nên dùng lẫn?

Vôi là vật tư quen thuộc trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng việc nhầm lẫn giữa vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Sử dụng sai loại không chỉ làm giảm hiệu quả cải tạo môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro cho cây trồng, vật nuôi.

vôi nuôi tôm
• 00:00 23/02/2026

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh thủy sản

Một trong những giải pháp được đánh giá cao hiện nay là ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh cho tôm, cá. Đây không chỉ là hướng đi thay thế hóa chất truyền thống mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam.

chế phẩm sinh học thủy sản
• 00:00 21/02/2026

Bỏ túi bí quyết giảm hệ số FCR xuống dưới 1.2 mà không cần đổi loại thức ăn

Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm và cá thâm canh, thức ăn thường chiếm 50–65% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không chỉ là một chỉ số kỹ thuật mà còn là thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế. Chênh lệch 0,1 FCR ở quy mô vài chục tấn có thể tạo ra khoảng cách lợi nhuận rất lớn.

tôm
• 10:00 14/02/2026

Chủ động phòng bệnh TiLV – bảo vệ đàn cá rô phi ngay từ đầu vụ

Tilapia Lake Virus (TiLV) đang được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với ngành nuôi cá rô phi toàn cầu. Virus này có thể gây tỷ lệ chết lên tới 80–90%, lây lan nhanh và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

cá rô phi
• 12:00 11/02/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 03:19 24/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 03:19 24/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 03:19 24/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 03:19 24/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 03:19 24/02/2026
Some text some message..