Ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi tôm

Ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong nuôi tôm thương phẩm hiện nay được coi là giải pháp hỗ trợ mang tính tất yếu để ngành nuôi tôm công nghiệp ổn định và phát triển bền vững.

Ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi tôm
Ứng dụng CNSH trong nuôi tôm được các hộ nuôi nhiệt tình hưởng ứng.

Việc lạm dụng hóa chất kháng sinh trong nuôi tôm thâm canh hiện nay đã và đang phá vỡ cân bằng hệ sinh thái và tác động xấu đến môi trường, chất lượng sản phẩm kém và tồn lưu các hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng đang tạo nên rào cản trong việc xuất khẩu tôm Việt Nam ra thị trường thế giới. Do đó, nuôi tôm ứng dụng CNSH không sử dụng kháng sinh, hóa chất cần ứng dụng trong tất cả các khâu của quá trình nuôi.

Tác dụng chế phẩm sinh học với môi trường và tôm nuôi

Chế phẩm sinh học trong môi trường nước sẽ kích thích sự phát triển của các vi sinh vật có lợi, cạnh tranh môi trường sống, làm giảm vi sinh vật có hại, ổn định môi trường ao nuôi, giúp chuyển hóa các chất hữu cơ, như: thức ăn dư thừa, xác tảo, cặn bã… thành chất vô cơ không độc hại cho tôm nuôi; đồng thời sẽ chuyển các chất độc hại như: NH3, NO2… thành các chất không độc NO3, NH4+, từ đó ổn định chất lượng nước và nền đáy trong ao nuôi.

Chế phẩm sinh học trong ruột tôm giúp kích thích vi khuẩn có lợi phát triển, cạnh tranh để giảm dần số lượng vi khuẩn gây bệnh đường ruột cho tôm, tham gia quá trình biến dưỡng tạo vitamin, chuyển hóa các chất dinh dưỡng từ cung cấp năng lượng cho nuôi tôm, tiết ra một số chất kháng sinh, enzym hay hóa chất kìm hãm, tiêu diệt mầm bệnh, nâng cao sức khỏe và sức đề kháng cho tôm. Theo đó, loại chế phẩm vi sinh thường sử dụng mang lại hiệu quả cao và dễ áp dụng cho các hộ nuôi tôm là chế phẩm EM, đây là sản phẩm gồm 87 loài vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí được lựa chọn từ 2.000 loài vi sinh vật phổ biến trong công nghệ thực phẩm và công nghệ lên men là vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, nấm sợi. Tác dụng của EM đối với tôm nuôi là tăng sức đề kháng, khả năng chống chịu của tôm với các điều kiện ngoại cảnh bất lợi, tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ các loại thức ăn của tôm nuôi, tăng sản lượng và chất lượng tôm, tiêu diệt các vi sinh vật có hại, hạn chế ô nhiễm môi trường…

Nguyên tắc dùng chế phẩm vi sinh

Tiến sĩ Nguyễn Tấn Sỹ - Phó Viện trưởng Viện Nuôi trồng thủy sản (Trường Đại học Cần Thơ) cho biết, chế phẩm vi sinh không thể đồng thời sử dụng với kháng sinh và hóa chất diệt khuẩn và việc dùng phải đúng liều lượng, với chế phẩm vi sinh dạng bột nên dùng nước ao nuôi hòa tan và sục khí mạnh 2 - 4 giờ trước khi sử dụng để gia tăng sinh khối vi khuẩn, chế phẩm vi sinh dạng nước nên ủ yếm khí để gia tăng sinh khối trước khi sử dụng, thời gian xử lý vi sinh khoảng 8 giờ - 10 giờ sáng, việc dùng chế phẩm vi sinh theo định kỳ để duy trì mật độ vi khuẩn thích hợp nhằm kiểm soát sinh học môi trường nước và đáy ao, ổn định các yếu tố môi trường ao nuôi, ngăn ngừa các loại vi khuẩn gây hại, tảo độc và mầm bệnh tiềm tàng trong ao.

Tiến sĩ Nguyễn Tấn Sỹ khuyến cáo hộ nuôi tôm nên dùng chế phẩm vi sinh ngay đầu vụ nuôi sẽ đem lại hiệu quả cao, có thể chia làm 3 giai đoạn là trước khi thả giống, phải tháo cạn nước trong ao, dọn bùn và bùn đáy ao và dùng chế phẩm vi sinh để xử lý bùn đen, phơi đáy 10 - 15 ngày, cày xới đáy ao để các khí độc NH3, H2S thoát ra khỏi đáy ao, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ vi sinh vật phân giải ở đáy ao phát triển mạnh, bón vôi cải tạo đáy và bờ ao, dùng chế phẩm vi sinh theo đúng hướng dẫn nhà sản xuất, kiểm tra vi sinh trong ao khi đạt yêu cầu thì tiến hành thả nuôi; giai đoạn 2, trong quá trình nuôi, dùng vi sinh xử lý môi trường nước định kỳ trong suốt vụ nuôi để ổn định mật số vi khuẩn có lợi ao nuôi nhằm duy trì chất lượng nước trong suốt vụ nuôi và phòng trừ dịch bệnh cũng như trộn vi sinh trong thức ăn để cho tôm ăn để ổn định vi sinh vật trong đường ruột tôm, giúp tôm tăng cường sự bắt mồi, hấp thụ tốt thức ăn, nâng cao hiệu quả thức ăn phòng trừ các bệnh đường ruột trên tôm; giai đoạn 3, sau thu hoạch tôm, dùng chế phẩm vi sinh xử lý nước thải ra môi trường và dùng chế phẩm vi sinh xử lý chất thải sau khi kết thúc vụ nuôi.

Qua đó, tiến sĩ Nguyễn Tấn Sỹ hướng dẫn người nuôi tôm cách phòng trị một số bệnh tôm bằng chế phẩm sinh học:

Tôm nổi đầu do khí độc, người nuôi hòa tan 2 - 3 lít EM gốc vào 20 lít nước lấy từ ao nuôi rồi tạt đều vào ao nuôi ngay lúc tôm nổi đầu, đồng thời mở dàn quạt chạy hết công suất.

Tôm bị mòn đuôi, cụt râu, dùng 2 - 3 lít EM tỏi cộng với 10kg thức ăn, trộn đều và ủ kín thức ăn trong 4 giờ, sau đó cho tôm ăn theo tỷ lệ 1kg/100.000 tôm giống/ngày, hoặc dùng 50 lít EM2/1.000m2/ngày, dùng liên tiếp 3 lần với khoảng cách 2 ngày/lần.

Đối với tôm bị đóng rong, dùng 4 lít EM5/1.000m2 dùng liên tiếp trong 5 ngày vào buổi sáng và khi tảo chết nhiều độ pH thấp dùng vôi để nâng pH;

Tôm bệnh đốm trắng do vi khuẩn, dùng 5 lít EM5/1.000m2 dùng liên tiếp trong 5 ngày vào buổi sáng đến khi tôm lột xác nhiều ngừng sử dụng EM5 thay thế bằng 10 lít EM2/1.000m2/2 ngày và dùng liên tiếp cho đến lúc bệnh đốm trắng giảm dần.

Báo Sóc Trăng
Đăng ngày 12/12/2018
Thúy Liễu
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh thủy sản

Một trong những giải pháp được đánh giá cao hiện nay là ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh cho tôm, cá. Đây không chỉ là hướng đi thay thế hóa chất truyền thống mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam.

chế phẩm sinh học thủy sản
• 00:00 21/02/2026

Bỏ túi bí quyết giảm hệ số FCR xuống dưới 1.2 mà không cần đổi loại thức ăn

Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm và cá thâm canh, thức ăn thường chiếm 50–65% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không chỉ là một chỉ số kỹ thuật mà còn là thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế. Chênh lệch 0,1 FCR ở quy mô vài chục tấn có thể tạo ra khoảng cách lợi nhuận rất lớn.

tôm
• 10:00 14/02/2026

Chủ động phòng bệnh TiLV – bảo vệ đàn cá rô phi ngay từ đầu vụ

Tilapia Lake Virus (TiLV) đang được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với ngành nuôi cá rô phi toàn cầu. Virus này có thể gây tỷ lệ chết lên tới 80–90%, lây lan nhanh và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

cá rô phi
• 12:00 11/02/2026

Những nguyên tắc nền tảng trong nuôi tôm

Nuôi tôm không phải là việc dễ dàng – nhưng việc thực hiện đúng các bước căn bản có thể giúp ao nuôi của bạn đạt năng suất cao và sạch bệnh.

tôm
• 12:00 08/02/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 17:12 21/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 17:12 21/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 17:12 21/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 17:12 21/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 17:12 21/02/2026
Some text some message..