Hoạt tính Enzyme thay đổi thế nào khi ấu trùng cua biển phát triển?

Để xây dựng khẩu phần dinh dưỡng hợp lý, cần tìm hiểu hoạt tính của enzyme thủy phân protein qua các giai đoạn phát triển ấu trùng cua biển.

Cua biển.
Cua biển.

Cua biển (Scylla paramamosain) là đối tượng nuôi quan trọng ở nước ta. Với đặc điểm tăng trưởng nhanh, giá trị dinh dưỡng cao, cua là loài thực phẩm có giá trị xuất khẩu và thị trường tiêu thụ rộng lớn, hiệu quả từ các mô hình nuôi cua đã và đang mang lãi thu nhập ổn định cho vùng ven biển.

Nhằm cung cấp cho người nuôi nguồn cua giống có chất lượng tốt và giảm áp lực cho việc khai thác từ tự nhiên, việc sản xuất giống cua ngày càng được quan tâm và phát triển. Tuy nhiên, tỷ lệ sống trong việc sản xuất giống cua nhân tạo vẫn còn ở mức thấp, thường từ 5 - 7%. Với kỹ thuật hiện tại, tỷ lệ ấu trùng chết ở các giai đoạn biến thái còn cao, đỉnh điểm là ở các giai đoạn Zoae (Z1-Z3) và từ Zoae-5 (Z5) đến Megalopa, là thách thức lớn đối với quá trình ương nuôi ấu trùng cua biển. Bên cạnh bệnh do Vibrio gây ra, tỷ lệ sống thấp trong sản xuất giống cua biển đã được quy cho công nghệ sản xuất giống không phù hợp do thiếu hiểu biết về phát triển của ấu trùng và sinh lý tiêu hóa.

Tầm quan trọng của enzyme thủy phân thức ăn ở động vật giáp xác

Động vật giáp xác thường thiếu các enzyme cần thiết cho sự thủy phân thức ăn. Một số nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của thức ăn tươi sống như thức ăn ngoài đầu tiên của ấu trùng cá và nhuyễn thể, sử dụng các enzyme trong thức ăn để cải thiện tiêu hóa cho đến khi hệ thống tiêu hóa trở nên phát triển hoàn.

Để phát triển thành công công nghệ sản xuất giống cua biển thì kiến thức về quá trình phát triển enzyme tiêu hóa là điều cần thiết trong sinh lý dinh dưỡng và xây dựng các loại thức ăn thích hợp và chế độ cho ăn cần thiết để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng cua. Tuy nhiên các nghiên cứu về đặc điểm các enzyme tiêu hóa của ấu trùng cua biển Scylla paramamosain còn rất hạn chế.

Nghiên cứu này mô tả đặc điểm của một số enzyme thủy phân protein (trypsin, chymotrypsin, pepsin, protease) làm cơ sở cho việc xây dựng các khẩu phần dinh dưỡng hợp lý trong ương nuôi ấu trùng, góp phần cải thiện tỷ lệ sống của ấu trùng cua biển.

Hoạt tính enzyme thủy phân protein thay đổi khi ấu trùng cua biển phát triển

Ấu trùng khoẻ  mạnh được thu và xử  lý qua formol 200 ppm trong 30 giây trước khi bố trí vào 3 bể ương, thể tích 0,5m3, độ mặn 30‰, mật độ ương là 400 ấu trùng/lít. 

Ấu trùng cua được cho ăn bằng Artemia với 6 lần/ngày. Bể nuôi được siphone đáy và thay nước định kỳ 3 ngày/lần, mỗi lần thay 25% lượng nước ương. 

Kiểm tra và duy trì hàm lượng kiềm ở mức 100 - 120ppm NaHCO3. Khi ấu trùng chuyển hoàn toàn sang Zoae-4 thì tiến hành thu và chuyển sang bể composite 2m3, bố trí ở mật độ thưa khoảng 50 - 70 ấu trùng/lít. Khi ấu trùng chuyển sang Megalope, tiến hành đặt giá thể bìng lưới nilon cho ấu trùng bám và hạn chế ăn nhau. 

Hoạt tính của protease, trypsin, chymotrypsin và pepsin được phân tích trong quá trình phát triển của ấu trùng từ Zoae-1 đến Cua-1. Kết quả cho thấy trong giai đoạn phát triển ấu trùng, hoạt tính của enzyme thủy phân protein của cua biển có sự thay đổi lớn theo từng giai đoạn, trong đó hoạt tính enzyme protease và pepsin tăng dần (lần lượt từ 3,85 đến 19,1 U/mg protein và 1,69 đến 8,32 U/mg protein) trong tất cả các giai đoạn ấu trùng, trong khi hoạt tính trypsin và chymotrypsin từ Zoae-1 đến Zoae-5 rất thấp (0,92 - 0,99 và 1,15 -0,85 U/mg protein), có sự thay đổi lớn ở các giai đoạn Zoae-5, Megalope và Cua.

Ở  giai đoạn Zoae-1 đến Zoae-5 cho thấy hoạt tính thấp của các enzyme thủy phân protein, đến giai đoạn Zoae-5, megalope thì các hoạt tính enzyme tương đối hoàn thiện, đến giai đoạn Megalope và biến thái sang cua, các enzyme có sự  thay đổi lớn về  hoạt tính hoàn thiện theo sự thay đổi hình thái và tính ăn của cua biển.

Những kết quả này chỉ ra sự thay đổi hoạt tính các enzyme thủy phân protein trong quá trình phát triển của ấu trùng cua biển, từ đó lựa chọn nguồn thức ăn thích hợp trong quá trình ương nuôi cua phù hợp với từng giai đoạn phát triển, góp phần  nâng cao tỉ sống trong quá trình ương nuôi cua.

Theo Trần Nguyễn Duy Khoa, Lý Thị Yến Mi, Lê Quốc Việt, Cao Mỹ Án, Đỗ Thị Thanh Hương, Trần Ngọc Hải .

Đăng ngày 02/05/2020
NH
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Nhớt bạt ao nuôi tôm, nguyên nhân và cách xử lý

Nhớt bạt ao nuôi tôm là hiện tượng xuất hiện một lớp nhớt mỏng, trơn, màu trắng đục hoặc vàng nâu bám trên bề mặt bạt ao nuôi (đáy và thành ao). Đây là hiện tượng phổ biến trong ao nuôi tôm lót bạt HDPE và thường xảy ra sau một thời gian nuôi hoặc sau khi ao có nhiều chất hữu cơ tích tụ.

Ao tôm
• 14:04 12/01/2026

Tại sao cá lóc hay ăn thịt lẫn nhau? Kỹ thuật lọc cỡ để không bị hao hụt số lượng

Tập tính ăn thịt đồng loại ở cá lóc là nguyên nhân hàng đầu gây hao hụt đầu con trong nuôi thâm canh. Hiểu rõ bản năng săn mồi và áp dụng kỹ thuật lọc cỡ đúng thời điểm là chìa khóa giúp người nuôi bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh giá thức ăn tăng cao.

Cá lóc
• 08:57 08/01/2026

Kiểm chứng các kinh nghiệm truyền miệng trong ngành nuôi tôm

Nuôi tôm là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nơi mỗi biến động nhỏ của môi trường đều có thể dẫn đến thiệt hại vô cùng nghiêm trọng.

Nuôi tôm thẻ
• 11:38 02/01/2026

Ngành thủy sản Gia Lai duy trì ổn định sản xuất, tăng cường giải pháp chống khai thác IUU

Trong tháng 01, hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Gia Lai chịu tác động lớn của gió mùa Đông Bắc, thường xuyên xuất hiện gió mạnh và biển động, gây không ít khó khăn cho ngư dân.

Tàu cá
• 11:02 01/02/2026

Hơn nửa thập kỷ giữ lửa tại làng Vũ Đại với món cá kho trứ danh

Cá kho làng Vũ Đại không chỉ là món ăn truyền thống mà còn là biểu tượng văn hóa ẩm thực đặc sắc của vùng đất Hà Nam. Với quy trình chế biến kỳ công kéo dài hàng chục tiếng đồng hồ, món ăn này đã khẳng định vị thế đặc sản cao cấp trong các dịp lễ Tết.

Cá kho
• 11:02 01/02/2026

Nuôi tôm ao đất truyền thống hay ao nổi lót bạt mật độ cao

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và dịch bệnh trên tôm ngày càng khó lường, người nuôi tôm Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ quan trọng về việc lựa chọn mô hình canh tác.

Tôm thẻ
• 11:02 01/02/2026

Giải pháp giảm ô nhiễm từ ao nuôi cá tra thâm canh

Nuôi cá tra thâm canh đang mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ dân. Tuy nhiên, đi kèm với hiệu quả kinh tế là nguy cơ ô nhiễm môi trường nước ao nuôi, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cá và môi trường xung quanh.

Cho cá ăn
• 11:02 01/02/2026

Ba việc người nuôi cần làm để cứu đàn cá rô phi khỏi bệnh TiLV

Virus TiLV là nỗi ám ảnh lớn nhất của nghề nuôi cá rô phi với tỷ lệ tử vong lên tới 90%. Do chưa có thuốc đặc trị, sự sống còn của đàn cá phụ thuộc hoàn toàn vào chiến lược phòng thủ chủ động. Dưới đây là ba hành động cấp bách và những nguyên tắc bất di bất dịch để bảo vệ đàn cá trước loại virus nguy hiểm này.

Cá rô phi
• 11:02 01/02/2026
Some text some message..