Một số hạn chế của việc ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc

Trong bối cảnh hiện nay, để thay thế cách nuôi tôm truyền thống, công nghệ Semi-Biofloc có thể được coi là một lựa chọn an toàn hơn, hiệu quả hơn cho nuôi tôm mật độ cao.

Ao nuôi
công nghệ Semi-Biofloc có thể được coi là một lựa chọn an toàn hơn khi thay thế cách nuôi tôm truyền thống. Ảnh: Tép Bạc

Đồng thời, nhờ hệ thống công trình được thiết kế đảm bảo an toàn sinh học và sử dụng biofloc để ức chế vi sinh vật gây bệnh mà bệnh tôm rất hiếm khi xảy ra trong các ao nuôi áp dụng. Hiệu suất sử dụng tài nguyên nước của công nghệ Semi-Biofloc rất ấn tượng, tổng lượng nước khoảng 60.000 m3/ha/vụ ( giảm 50% so với cách nuôi cũ).

Công nghệ Semi-biofloc có sự hiện diện của tảo trong hệ thống nuôi và mật độ biofloc ở mức 1,5 - 2,5 mL/L; sử dụng ao nhỏ, lót bạt HDPE diện tích 500 - 1.000 m2 có mái che, chủ động loại bỏ chất thải bằng biện pháp siphon để giảm tải cho môi trường nuôi.

Đi kèm với thiết kế chuẩn về công trình nuôi, phụ trợ và trang thiết bị, đảm bảo mức độ khuấy đảo và hàm lượng oxy hòa tan cần thiết. Chủ động về thành phần vi khuẩn dị dưỡng trong hệ thống bằng cách tạo và duy trì biofloc chức năng. 

Nói một cách khác, công nghệ Semi-Biofloc có rất nhiều đặc điểm ưu việt, bao gồm: Độ an toàn sinh học cao hơn; Khả năng tự làm sạch giúp nuôi tôm không cần thay nước. Biến chất thải thành nguồn dinh dưỡng bổ sung cho tôm nuôi, giảm một phần chi phí thức ăn. Giảm giá thành sản phẩm nhờ giảm chi phí sản xuất, thông qua việc tiết kiệm chi phí thay nước, xử lý nước và sử dụng hóa chất, kháng sinh. Tạo sản phẩm an toàn, có chất lượng cao.

Sự hấp dẫn nhất của công nghệ Semi-Biofloc là cơ hội giảm chi phí sản xuất nhờ hạn chế sử dụng hóa chất, không sử dụng kháng sinh và tiết kiệm chi phí thức ăn, thay nước, xử lý nước. Quan trọng hơn, nuôi tôm theo công nghệ Semi-Biofloc không cho phép sử dụng kháng sinh hay hóa chất diệt khuẩn trong quá trình nuôi. Vì thế, sản phẩm tôm thu hoạch từ các ao nuôi theo công nghệ semi-biofloc thường có giá cao hơn trên thị trường (10.000 - 15.000 đồng/kg) và được người tiêu dùng tin tưởng.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng công nghệ Semi-Biofloc trong thời gian qua mặc dù có sự đổi mới để hướng đến hiệu quả cao hơn và đạt được một số kết quả đáng kể, bên cạnh đó vẫn còn có những hạn chế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, vốn đầu tư cao, gây trở ngại trong việc ứng dụng để nhân rộng. Chi phí đầu tư mới cho trại nuôi tôm theo công nghệ semi-biofloc trên diện tích 1 ha đất sẽ tốn tư 1,2 tỉ đồng. Đây là số tiền không nhỏ đối với người nuôi tôm, nhất là những người đang có khó khăn trong nuôi tôm.

Một quy trình kỹ thuật chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được triển khai trên một cơ sở hạ tầng được thiết kế và xây dựng đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Ngoài ra, chi phí điện năng cho vận hành cao trung bình 12 triệu đối với ao nuôi có diện tích 1.000 m2 /vụ nuôi do phải vận hành quạt nước và hệ thống sục khí đáy liên tục. 

Ao nuôiCông nghệ Semi-Biofloc được các hộ nuôi quan tâm, đầu tư. Ảnh: NTN

Thứ hai, rủi ro lớn khi hệ thống quạt nước sục khí bị trục trặc hoặc mất nguồn điện. Công nghệ Semi-biofloc chỉ phù hợp ở những nơi có lưới điện tốt và nguồn cung cấp điện ổn định. Nếu nguồn điện bị mất trong quá trình nuôi, tôm sẽ nhanh chóng bị ngạt và chết chỉ trong vòng khoảng 15-30 phút tùy theo thời điểm của vụ nuôi. Thêm nữa, hạt biofloc khi không được khuấy đảo sẽ lắng xuống đáy và chết, gây ô nhiễm môi trường nhanh chóng. 

Thứ ba, khả năng tiếp cận công nghệ của cán bộ kỹ thuật. Cán bộ kỹ thuật vận hành hệ thống nuôi Semi-biofloc cần hiểu rõ về bản chất của công nghệ, yêu cầu của vi khuẩn dị dưỡng và tôm nuôi, động thái môi trường ao và nguyên lý của các biện pháp kỹ thuật. Semi-biofloc chỉ phát huy tác dụng tích cực khi người nuôi tôm tuân thủ chặt chẽ các bước kỹ thuật.

Hiện nay, cơ chế cụ thể của công nghệ còn đang trong quá trình nghiên cứu . Lỗ hổng kiến thức này làm cho việc quản lý sản xuất trở nên khó khăn hơn và có thể khiến nông dân không được trang bị đầy đủ để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình nuôi thương phẩm.

Thứ tư, sự khác biệt của quần xã vi sinh vật tự nhiên giữa các vùng nuôi. Vi khuẩn dị dưỡng luôn có sẵn trong đất và nước tự nhiên. Khi cơ chất carbon hữu cơ được bổ sung đúng mức, oxy hòa tan đầy đủ chúng sẽ phát triển. Thành phần của quần xã vi khuẩn sẽ phụ thuộc vào những chủng hiện diện trong ao nuôi hay vùng nuôi, cộng thêm sự khác biệt về thiết kế ao, lắp đặt trang thiết bị, nguyên vật liệu sử dụng và biến hóa về qui trình. Hiệu suất không nhất quán và theo mùa đối với các hệ thống tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.

Thứ năm, sự khác biệt về chất lượng của các nguyên vật liệu chính giữa những người nuôi, giữa các vùng nuôi. Bên cạnh yêu cầu thời gian khởi động, các hệ thống Semi-Biofloc có thể khiến tôm nuôi gặp rủi ro về dịch bệnh nếu người nuôi không quản lý được mức độ chất rắn lơ lửng trong nước nuôi, gây nguy cơ tăng sự mất ổn định nitrat hóa, khả năng ô nhiễm gia tăng do tích tụ nitrat.

Đăng ngày 17/05/2023
NTN @ntn
Nuôi trồng

FLOCponics: Sự tích hợp hoàn hảo của công nghệ biofloc và cây thủy canh

FLOCponics là một loại Aquaponics thay thế tích hợp công nghệ biofloc (BFT) với sản xuất cây trồng không sử dụng đất.

flocponics
• 15:51 07/03/2022

Mô hình nuôi ba ba lãi 300 triệu đồng/năm

Mô hình nuôi ba ba của ông Lương Thành Kỷ, ở thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp. Qua 14 năm phát triển, đến nay đàn ba ba sinh sản của ông Kỷ đã phát triển hơn 1.500 con, mỗi năm xuất bán ra thị trường từ 8.000-10.000 con giống, trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận gần 300 triệu đồng/năm.

Ba ba.
• 09:38 14/06/2021

Kinh tế ổn định nhờ nuôi ba ba sinh sản

Hơn 20 năm nuôi ba ba sinh sản, anh Nguyễn Đức Lợi, ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có cuộc sống khấm khá. Gắn bó lâu năm với con ba ba một phần cũng vì sự yêu thích loài vật này, ba ba lại dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh.

• 15:40 03/03/2021

Thu trăm triệu đồng mỗi năm từ nuôi ba ba

Nuôi ba ba gai là một công việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao. Nhưng bằng ý chí, nghị lực, sự đam mê tận tụy với công việc cùng với áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật mà ông Phạm Tất Đạt ở xã Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã thành công, vươn lên trở thành triệu phú.

kỹ thuật sản xuất giống baba
• 10:00 30/05/2017

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 14:30 16/02/2026

Nguyên nhân nước ao biến động mạnh sau khi thả giống

Một trong những thách thức lớn nhất trong nuôi tôm là hiện tượng nước ao biến động mạnh ngay sau khi thả giống. Đây là giai đoạn nhạy cảm, khi hệ đệm yếu, độ kiềm thấp và nguồn nước chưa xử lý triệt để dễ khiến môi trường mất ổn định, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỷ lệ sống của tôm.

ao tôm
• 12:00 14/02/2026

Đầu tư công nghệ nuôi tôm: Bắt đầu từ đâu khi vốn còn hạn hẹp?

Trong bối cảnh chi phí đầu vào ngày càng tăng, dịch bệnh phức tạp và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, công nghệ được xem là chìa khóa để nâng cao hiệu quả nuôi tôm. Tuy nhiên, với nhiều hộ nuôi quy mô vừa và nhỏ, câu hỏi lớn nhất vẫn là: nên bắt đầu từ đâu khi nguồn vốn còn hạn chế?

Ao nuôi tôm
• 00:00 13/02/2026

Vì sao nhiều ao nuôi không thành công trong tháng đầu?

Không ít vụ nuôi tôm phải kết thúc sớm chỉ sau vài tuần vì tôm ăn kém, chết rải rác hoặc môi trường nước mất ổn định. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân không nằm ở con giống mà xuất phát từ khâu chuẩn bị ao và xây dựng nền môi trường ban đầu chưa đạt yêu cầu.

Ao nuôi tôm
• 12:53 12/02/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 15:25 18/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 15:25 18/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 15:25 18/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 15:25 18/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 15:25 18/02/2026
Some text some message..