Nuôi tôm trong hệ thống siêu mặn hạn chế thay nước

Nuôi tôm ở các vùng bán khô hạn như Tây Bắc Mexico phải đối mặt với tỷ lệ bốc hơi cao, độ mặn cao và các điều kiện khó khăn để giảm việc thay nước nhằm tăng an toàn sinh học và hiệu quả sản xuất.

Nuôi tôm trong hệ thống siêu mặn hạn chế thay nước
Nguồn ảnh: eurofishmagazine

Những nghiên cứu trước đây đã báo cáo rằng sản lượng tôm không giảm khi giảm thay nước trong các điều kiện môi trường có tỉ lệ bốc hơi và độ mặn cao hệ thống bán thâm canh ở Tây Bắc Mexico. Bang Baja California Sur (BCS) nằm trong vùng này, sản xuất tôm thâm canh phụ thuộc vào sục khí ban đêm và thay nước biển ít nhất 20% mỗi ngày - điều này dựa trên lịch trình và không dựa vào việc theo dõi chất lượng nước ao.

Các nghiên cứu trước cũng cho thấy độ mặn cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng của tôm, do đó nhóm nhà khoa học Mexico đã thử nghiệm khả năng sinh lý chống chịu độ mặn của tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (Litopenaeus vannamei) khi nuôi trong hệ thống quang dị dưỡng ở độ mặn cao.

Hệ thống quang dị dưỡng (còn được gọi là semi-biofloc hoặc green-floc) trong điều kiện bán khô cằn. Mục tiêu là tận dụng lợi thế của quá trình quang dưỡng và quang dị dưỡng bằng cách duy trì hệ thống hạt hoạt tính trong dòng nước thông qua sục khí liên tục. Điều này cho phép việc thay nước tối thiểu hoặc không thay nước, nhưng vẫn có độ ổn định hệ thống và tái chế chất dinh dưỡng hiệu quả.

Đánh giá tiềm năng sản xuất tôm thẻ trong các ao siêu mặn với các điều kiện quang dị dưỡng và hạn chế thay nước

Thiết lập thử nghiệm

Các nhà khoa học đã sử dụng sáu ao diện tích 1.000 m2, sâu 1,35 mét, ao lót bạt chứa đầy nước biển (độ mặn 37 gram/Lít). Mười bốn ngày trước khi thả giống, ao được bón phân hàng ngày với hỗn hợp thương mại nitrat (15%), oxit silic (3,5%) và natri (25%), với tỷ lệ 5 kg/ha, và hỗn hợp probiotic thương mại được thêm vào mỗi ao để thúc đẩy một phức hợp vi sinh vật dị dưỡng, bổ sung hàng ngày trong tuần đầu tiên và 2 lần/ tuần cho đến khi kết thúc nghiên cứu.

Tôm giống L.vannamei (PL14) được thả mật độ 120 con/ m2 trong ao. Tôm được cho ăn thức ăn thương mại (35% protein thô) với khẩu phần ăn 4 lần/ngày. Tỷ lệ thức ăn ban đầu là 10% tổng sinh khối và dần dần giảm xuống còn 2% vào cuối nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu ao nuôi không có sự thay nước, nhưng được bổ sung nước biển hàng tuần là 1,6 %/ngày/ao được thực hiện sau tháng nuôi đầu tiên, để bù cho sự bốc hơi và duy trì độ mặn. Máy sục khí liên tục 24 giờ một ngày với tốc độ tương đương với 20 HP/ha trong 30 ngày đầu tiên và tăng lên 40 HP/ha trong thời gian còn lại của nghiên cứu. Nhiệt độ (T), oxy hòa tan (DO), pH và độ mặn (S) được đo thường xuyên và amoniac, nitrat, nitrit, phosphate và kiềm được đo mỗi tuần một lần. Các mẫu nước được thu thập để đo lượng chất rắn trầm tích (SS).

Kết quả

Sử dụng mô hình ngẫu nhiên (độ tin cậy 95%), trọng lượng tôm cuối cùng được ước tính thay đổi từ 12,36 đến 14,49 gram (trung bình = 13,33 gram) và tỷ lệ sống dao động từ 78,7 đến 89,8% với tỉ lệ sống trung bình là 84,2%. Theo mô hình, nhiệt độ, trọng lượng cuối cùng của tôm và oxy hòa tan là những yếu tố quan trọng nhất gây ra sự thay đổi trong sản lượng tôm.

Việc giảm thay nước là điều mong muốn trong nuôi tôm, không chỉ đảm bảo an toàn sinh học và giảm chi phí, mà còn vì lượng nước sử dụng để sản xuất một kg tôm là một dấu hiệu tốt về hiệu quả của hệ thống này. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng trung bình 2,3 m3 nước biển/kg tôm, một mức thấp đáng kể khi xem xét tốc độ bay hơi trung bình 10 mm của ao tôm mỗi ngày do nhiệt độ cao, khí hậu khô và bức xạ mặt trời cao.

Trong điều kiện độ mặn cao, chi phí năng lượng cho chuyển hóa thường xuyên ở tôm dự kiến ​​sẽ tăng lên, do đó, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) trung bình trong thử nghiệm này (1,52) là không bất ngờ. Việc thay nước tối thiểu và sục khí cơ học liên tục mà chúng tôi sử dụng trong hệ thống quang dị dưỡng đã kích thích sự phát triển của cộng đồng vi khuẩn giúp làm giảm chất hữu cơ và các chất thải khác.

Tỷ lệ sống của tôm biển nuôi ở độ mặn thấp có thể thay đổi và bị ảnh hưởng bởi thành phần ion của nước và các yếu tố khác, nhưng tỷ lệ sống của tôm trong nghiên cứu là như nhau đối với cả hai điều kiện và không khác biệt đáng kể giữa các điều kiện trong thử nghiệm này. Tôm L. vannamei đã cho thấy khả năng thích nghi và khả năng chịu đựng đáng kể với các độ mặn khác nhau, và tăng trưởng đầy đủ có thể đạt được giữa độ mặn 25 và 45 gram/lít.

Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trong các ao siêu mặn với các điều kiện quang dị dưỡng và hạn chế thay nước với hiệu quả bước đầu là các động lực cho ngành nuôi tôm ở những vùng nuôi tôm thâm canh độ mặn và nhiệt độ cao. Dựa trên mô hình, có 95% sự tin tưởng rằng hệ thống này có thể sản xuất từ ​​12,1 đến 14,7 tấn tôm/ha (trung bình = 13,2 tấn/ha).

Kết quả của các nhà khoa học cho thấy hệ số tăng trưởng có tỷ lệ nghịch với nhiệt độ nước, oxy hòa tan cao giúp giảm tỷ lệ chết giảm và cũng cho thấy ảnh hưởng tích cực của nhiệt độ cao đối với sự tăng trưởng sớm của tôm. Nhưng tác động tích cực sớm của nhiệt độ này có xu hướng giảm đi và tác động của sự thay đổi đến việc tăng trọng lượng và oxy hòa tan tăng lên khi thời gian nuôi cấy được tiến hành. Và vào cuối nghiên cứu, các thay đổi sản lượng chủ yếu được giải thích bởi sự thay đổi ngẫu nhiên trong trọng lượng tôm cuối cùng được xác định trong các ao, và bởi sự khác biệt trong quần thể còn sống dựa trên ảnh hưởng của oxy hòa tan đến tỷ lệ chết.

Mô hình sản xuất tôm thẻ trong các ao siêu mặn với các điều kiện quang dị dưỡng và hạn chế thay nước cung cấp được tôm thương mại trong mười lăm tuần, điều này cho thấy rằng có thể sản xuất hai vụ tôm mỗi năm, một lựa chọn thay thế thú vị cho các nhà sản xuất tôm ở Tây Bắc Mexico. Việc tái chế các chất dinh dưỡng từ quang dị dưỡng đã góp phần thu được kết quả hứa hẹn và duy trì chất lượng nước đầy đủ trong hệ thống.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học kết luận rằng việc sử dụng hệ thống siêu mặn (37 đến 45 gram/Lít) để nuôi tôm với việc hạn chế thay nước tạo ra trọng lượng cuối cùng, tỷ lệ sống, năng suất và FCR tương đương với hệ thống nuôi tôm biển hoặc nước lợ.

Đăng ngày 13/09/2018
TCTS Lược dịch GAA
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Nhớt bạt ao nuôi tôm, nguyên nhân và cách xử lý

Nhớt bạt ao nuôi tôm là hiện tượng xuất hiện một lớp nhớt mỏng, trơn, màu trắng đục hoặc vàng nâu bám trên bề mặt bạt ao nuôi (đáy và thành ao). Đây là hiện tượng phổ biến trong ao nuôi tôm lót bạt HDPE và thường xảy ra sau một thời gian nuôi hoặc sau khi ao có nhiều chất hữu cơ tích tụ.

Ao tôm
• 14:04 12/01/2026

Tại sao cá lóc hay ăn thịt lẫn nhau? Kỹ thuật lọc cỡ để không bị hao hụt số lượng

Tập tính ăn thịt đồng loại ở cá lóc là nguyên nhân hàng đầu gây hao hụt đầu con trong nuôi thâm canh. Hiểu rõ bản năng săn mồi và áp dụng kỹ thuật lọc cỡ đúng thời điểm là chìa khóa giúp người nuôi bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh giá thức ăn tăng cao.

Cá lóc
• 08:57 08/01/2026

Kiểm chứng các kinh nghiệm truyền miệng trong ngành nuôi tôm

Nuôi tôm là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nơi mỗi biến động nhỏ của môi trường đều có thể dẫn đến thiệt hại vô cùng nghiêm trọng.

Nuôi tôm thẻ
• 11:38 02/01/2026

Phân biệt tôm yếu gan, teo gan và hoại tử: Nhìn cho đúng để cứu tôm kịp thời

Thời gian gần đây, các bệnh về gan tụy trên tôm bùng phát mạnh khiến nhiều hộ nuôi "đứng ngồi không yên". Điều đáng nói là ranh giới giữa tôm mới chớm yếu gan và bệnh hoại tử chết sớm rất mong manh.

Tôm
• 09:00 08/12/2025

Quạt vẫn chạy nhưng tôm vẫn rớt đáy: Vấn đề nằm ở đâu?

Quạt nước là thiết bị quen thuộc trong ao nuôi tôm, nhưng cũng là nơi người nuôi dễ mắc sai lầm nhất. Không ít ao đầu tư rất nhiều quạt, tiền điện tăng cao, nhưng oxy đáy vẫn thiếu và môi trường ngày càng mất ổn định.

Quạt nước
• 08:20 19/01/2026

Kinh tế tuần hoàn trong nghề cá

Trong tư duy truyền thống, cá chỉ có giá trị ở phần thịt phi lê, còn lại bị xem là phế phẩm gây ô nhiễm. Tuy nhiên, mô hình kinh tế tuần hoàn đang đảo ngược hoàn toàn định kiến này.

Nghề cá
• 08:20 19/01/2026

Nhiều chính sách hỗ trợ nuôi biển xa bờ

Để khuyến khích phát triển nuôi biển công nghệ cao, tỉnh Khánh Hòa vừa ban hành nghị quyết hỗ trợ 100% kinh phí mua bảo hiểm tai nạn cho người lao động làm việc trên các lồng bè và phương tiện phục vụ nuôi trồng. Chính sách này được ví như "lá chắn" an toàn, giúp ngư dân yên tâm đầu tư vươn ra các vùng biển xa.

Nuôi biển
• 08:20 19/01/2026

Hành trình chuẩn hóa thủy sản vào siêu thị

Đưa sản phẩm thủy sản vào kênh bán lẻ hiện đại là xu hướng tất yếu để nâng cao giá trị kinh tế và khẳng định thương hiệu. Tuy nhiên, để trụ vững trên kệ hàng siêu thị, doanh nghiệp và người nuôi buộc phải giải quyết bài toán về sự đồng nhất chất lượng và năng lực cung ứng ổn định.

Tôm
• 08:20 19/01/2026

Cách xử lý khi tôm bị đóng rong và bám bẩn đuôi trong ao nuôi cũ

Trong những cái ao đã nuôi qua nhiều năm, lớp bùn thải tích tụ dưới đáy chính là nguyên nhân chính khiến tôm dễ bị đóng rong hoặc bám bẩn ở phần đuôi.

Tôm
• 08:20 19/01/2026
Some text some message..