Quảng Trị: Từ bỏ xung điện, về nuôi cá lồng

Nhiều năm trước, người dân ven sông ở xã Hải Tân (huyện Hải Lăng, Quảng Trị) sống chủ yếu bằng nghề chài lưới nay đây mai đó theo từng con nước nên đời sống rất bấp bênh. Không những vậy, nhiều hộ gia đình ở đây dùng đến cả xung điện, một loại phương tiện đánh bắt mang tính tận diệt nguồn lợi thủy sản tự nhiên để đánh bắt cá. Nhưng giờ đây, về Hải Tân sẽ không còn cảnh người dân đeo máy xung điện hàng đêm lặn lội dọc các kênh rạch, khúc sông mưu sinh qua ngày. Hướng chăn nuôi cá lồng hiệu quả đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống người dân nơi đây.

cá lồng
Mô hình nuôi cá chình lồng giúp người dân Hải Tân thoát nghèo, vươn lên làm giàu

Hải Tân có hai con sông Ô Lâu và Ô Giang chảy qua, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản. Thế nhưng nhiều năm trước, những người dân vạn đò vẫn chưa có hướng ổn định cuộc sống bằng nghề nuôi trồng thủy sản. Họ chỉ mưu sinh bấp bênh bằng việc đánh bắt tôm cá trên sông, nhiều người còn sử dụng đến xung điện để đánh cá. Đến năm 2004, một hướng đi mới đã thay đổi hoàn toàn cuộc sống nơi đây, người dân không những ổn định cuộc sống mà còn ngày càng nâng cao thu nhập bằng nuôi trồng thủy sản. Từ khi thử nghiệm mô hình nuôi cá lồng trên sông đạt được hiệu quả, xã Hải Tân đã vận động và hỗ trợ người dân triển khai mô hình này với các lồng nuôi cá nước ngọt như cá chình, trắm, chép, rô phi…

Đến nay, xã Hải Tân có 57 hộ có mô hình nuôi cá lồng trên sông tập trung ở 3 thôn trong tổng số 4 thôn đó là các thôn Câu Nhi, Văn Trị, Hà Lỗ với 81 lồng nuôi. Mô hình nuôi cá chình lồng được phát triển nhiều và hiệu quả bởi đây là loài có giá trị kinh tế cao, có sức tiêu thụ lớn. Bình quân mỗi lồng cá chình nuôi được từ 200 đến 400 con, trong thời gian nuôi khoảng 1 năm thì xuất bán khi đạt trọng lượng từ 4- 5 kg. Với thời gian nuôi như vậy cho nên cá chình lồng được nuôi gối vụ để đảm bảo mỗi năm đều có số lượng cá xuất bán ra thị trường. Khi đầu ra và giá thị trường ổn định, 1kg cá chình có giá 400- 600 nghìn đồng, bình quân hộ nuôi được 1 lồng với khoảng 200- 400 con cho thu nhập trên 100 triệu đồng. Như vậy, việc nuôi cá chình lồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, không những giúp nhiều hộ gia đình ở xã Hải Tân thoát nghèo, vươn lên làm giàu mà việc dùng xung điện để đánh bắt tôm cá mưu sinh trước đây cũng đã chấm dứt để bảo vệ môi trường sinh thái. Ngoài việc nuôi cá chình lồng thì các mô hình nuôi cá trắm lồng, rô phi đơn tính được người dân nơi đây chú trọng. Đây là các loài cá đem lại hiệu quả kinh tế cao, chủ động được nguồn thức ăn tự nhiên, có thời gian nuôi ngắn hơn so với cá chình nên đảm bảo nguồn thu nhập thường xuyên trong năm.

Chúng tôi đến thăm mô hình nuôi cá lồng trên sông Ô Giang của hộ gia đình anh Phạm Văn Thiện (ở thôn Văn Trị, xã Hải Tân) để hiểu hơn về sự hiệu quả của hướng làm kinh tế này mang lại. Từ năm 2006, anh Thiện bắt đầu triển khai mô hình nuôi cá chình lồng, đến nay anh có 3 lồng cá chình và 1 lồng nuôi cá trắm cỏ, với mỗi lồng có thể tích 12 mét khối nuôi được 500 con cá chình. Anh Thiện cho biết, việc nuôi cá lồng không quá khó khăn như dự tính ban đầu của anh bởi điều kiện tự nhiên ở địa phương thuận lợi, nguồn thức ăn dồi dào, đa phần lấy trong tự nhiên như các loài cá vụn, tôm tép…Mỗi ngày chỉ cần cho cá ăn một lần, công chăm sóc rất ít, thời gian còn lại có thể làm được nhiều việc khác. Chỉ trong vòng 5 năm từ khi bắt tay vào nuôi cá lồng, cuộc sống gia đình anh khấm khá lên từng ngày, 3 đứa con của anh Thiện có điều kiện học hành tới nơi tới chốn. Nhớ lại trước đây, gia đình anh thuộc diện nghèo nhất xã, cuộc sống bấp bênh cơm không đủ ăn, phải lặn lội mưu sinh theo dòng nước. Đến khi mô hình nuôi cá lồng được triển khai ở Hải Tân thì cuộc sống người dân được cải thiện thấy rõ.

Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà hai tầng khang trang, đầy đủ tiện nghi, ông Phan Văn Vách (thôn Hà Lỗ) cho biết: “Gia đình tôi được như thế này cũng là nhờ con cá chình, con cá trắm nuôi lồng. Không còn cái thời xách máy xung điện thâu đêm đi đánh cá bấp bênh mà còn bị cấm, bị phạt vì tận diệt môi trường. Mấy năm nay cá chình được giá, được mùa nên đời sống vật chất của gia đình được nâng cao”. Ông Vách có 3 lồng cá chình, 7 lồng cá trắm thả trên dòng Ô Lâu. Lúc mới bắt đầu, ông đóng một chiếc lồng bằng các thanh nhôm, đục lỗ nhỏ, rồi bỏ cá chình con vào để nuôi, dần dần ông vay mượn một số vốn đầu tư lồng nhôm trị giá gần 18 triệu đồng mỗi cái, dựa vào đặc tính của cá chình để đặt vị trí phù hợp cho cá nhanh phát triển, hiệu quả cao. Ông Vách nuôi cá chình theo phương thức gối vụ bởi thời gian nuôi rất lâu từ 1,5 đến 2 năm mới cho thu hoạch. Với cách nuôi gối vụ thì năm nào ông cũng có một lượng cá chình để xuất bán, thu nhập đều đặn hơn. Ngoài ra, các lồng cá trắm có thì cho thu nhập quanh năm tạo thêm thu nhập thường xuyên để trang trải chi phí chăn nuôi và ổn định cuộc sống. Khi cá chình đạt trọng lượng 4-5 kg thì được xuất bán với giá rất cao từ 500- 600 nghìn đồng/kg, tính ra mỗi năm gia đình ông Vách thu về hơn trăm triệu đồng.

Khi hỏi về khó khăn trong việc nuôi cá lồng thì tất cả người nuôi đều có câu trả lời giống nhau đó là nguồn giống. Nhưng đó chỉ là giai đoạn ban đầu, đến nay nguồn giống đã được chủ động, có nguồn gốc rõ ràng. Trước đây, khi mới triển khai nuôi, muốn có cá giống, người nuôi phải lặn lội đi khắp nơi để tìm giống cá chình sống ở nơi hang nước đá lạnh, ở các khe suối. Khi mua được giống đem về, chưa chắc loài này đã kịp thích nghi với điều kiện nuôi ở đất bùn, cát, nếu mua giống không rõ nguồn gốc thì sẽ khó phù hợp và cá chết sau khoảng 1 tháng thả nuôi. Nhưng đến nay vấn đề này đã được cải thiện, người dân không lo về nguồn giống khi các công ty ở nhiều nơi tìm về đây kí hợp đồng cung cấp giống cho người dân.

Đứng trước thềm ngôi nhà mới xây nhìn ra khúc sông nơi có 5- 7 lồng nhôm nuôi cá chình nổi lập lờ, ông Phan Xích (thôn Câu Nhi) nhớ lại những tháng ngày bắt tay vào nuôi cá chình lồng. Người dân nơi đây vẫn hay có câu cửa miệng rằng nuôi cá chình như gửi tiền đáy sông. Câu này như vừa thể hiện khát vọng làm giàu từ con nước nhưng cũng thấy được sự khó khăn, mong manh thuở mới bắt đầu khởi nghề. Bao nhiêu vốn liếng đều đổ dồn vào con cá chình lồng, sống được, khấm khá cũng nhờ con cá, là hướng làm giàu rất bền vững cho người dân nơi đây.

Ông Bùi Xuân Giang, Chủ tịch UBND xã Hải Tân khẳng định: “Hiệu quả kinh tế từ nuôi cá chình lồng rất cao. Xã Hải Tân đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản, đây là hướng đi tích cực, hiệu quả cao trong công cuộc thoát nghèo, vươn lên làm giàu của từng hộ gia đình nơi đây. Cũng nhờ việc nuôi cá chình, người dân địa phương đã bỏ luôn nghề xung điện tận diệt, nên môi trường được đảm bảo, an ninh trật tự được giữ vững, cuộc sống người dân ngày càng được nâng cao”. 

BÁO QUẢNG TRỊ ĐIỆN TỬ, 17/08/2016
Đăng ngày 18/08/2016
Bài, ảnh: THANH HIẾU
Nuôi trồng

FLOCponics: Sự tích hợp hoàn hảo của công nghệ biofloc và cây thủy canh

FLOCponics là một loại Aquaponics thay thế tích hợp công nghệ biofloc (BFT) với sản xuất cây trồng không sử dụng đất.

flocponics
• 15:51 07/03/2022

Mô hình nuôi ba ba lãi 300 triệu đồng/năm

Mô hình nuôi ba ba của ông Lương Thành Kỷ, ở thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp. Qua 14 năm phát triển, đến nay đàn ba ba sinh sản của ông Kỷ đã phát triển hơn 1.500 con, mỗi năm xuất bán ra thị trường từ 8.000-10.000 con giống, trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận gần 300 triệu đồng/năm.

Ba ba.
• 09:38 14/06/2021

Kinh tế ổn định nhờ nuôi ba ba sinh sản

Hơn 20 năm nuôi ba ba sinh sản, anh Nguyễn Đức Lợi, ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có cuộc sống khấm khá. Gắn bó lâu năm với con ba ba một phần cũng vì sự yêu thích loài vật này, ba ba lại dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh.

• 15:40 03/03/2021

Thu trăm triệu đồng mỗi năm từ nuôi ba ba

Nuôi ba ba gai là một công việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao. Nhưng bằng ý chí, nghị lực, sự đam mê tận tụy với công việc cùng với áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật mà ông Phạm Tất Đạt ở xã Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã thành công, vươn lên trở thành triệu phú.

kỹ thuật sản xuất giống baba
• 10:00 30/05/2017

10 chuyển dịch quan trọng nhất trong ngành Dinh dưỡng thủy sản

Sự chuyển dịch thần tốc của ngành thủy dản không chỉ là câu chuyện về giá thành, mà là cuộc cách mạng về công nghệ và tính bền vững. Ngành dinh dưỡng, thức ăn thủy sản cũng đang chứng kiến những bước chuyển mình mạnh mẽ chưa từng có.

• 09:00 25/02/2026

Tại sao ao nuôi nên dùng đèn UV thay vì thuốc tím hoặc Chlorine?

Xử lý nước là bước bắt buộc trong nuôi tôm. Từ trước đến nay, Chlorine và thuốc tím (KMnO₄) là lựa chọn phổ biến vì giá rẻ và tác dụng nhanh. Tuy nhiên, khi mật độ nuôi ngày càng cao và yêu cầu an toàn sinh học khắt khe hơn, việc phụ thuộc vào hóa chất đang bộc lộ nhiều rủi ro.

ao nuôi
• 15:00 24/02/2026

Sai lầm thường gặp khi phơi đáy ao

Trong nuôi trồng thủy sản, công đoạn phơi đáy ao sau mỗi vụ nuôi được xem là bước làm mới môi trường, giúp loại bỏ mầm bệnh và tạo nền tảng cho vụ nuôi tiếp theo. Tuy nhiên, nhiều hộ nuôi vẫn mắc phải những sai lầm cơ bản, khiến hiệu quả xử lý giảm sút, thậm chí gây thiệt hại lớn.

đáy ao nuôi
• 12:00 23/02/2026

Nuôi tôm Việt Nam giữa vòng xoáy ô nhiễm – kháng sinh

Ngành tôm Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường: tiếp tục mở rộng diện tích nuôi để đánh đổi rừng ngập mặn và lạm dụng kháng sinh, hay chuyển mình sang mô hình thâm canh công nghệ cao bền vững? Câu trả lời sẽ quyết định vị thế của con tôm Việt trên bản đồ thế giới.

ao tôm
• 19:00 22/02/2026

Tại sao ao nuôi nên dùng đèn UV thay vì thuốc tím hoặc Chlorine?

Xử lý nước là bước bắt buộc trong nuôi tôm. Từ trước đến nay, Chlorine và thuốc tím (KMnO₄) là lựa chọn phổ biến vì giá rẻ và tác dụng nhanh. Tuy nhiên, khi mật độ nuôi ngày càng cao và yêu cầu an toàn sinh học khắt khe hơn, việc phụ thuộc vào hóa chất đang bộc lộ nhiều rủi ro.

ao nuôi
• 11:12 26/02/2026

Chính thức mở cổng đăng ký trước Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 kết nối toàn bộ ngành thủy sản

Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới về thị trường, công nghệ và phát triển bền vững, nhu cầu tìm kiếm giải pháp toàn diện, từ con giống, dinh dưỡng, công nghệ nuôi, chế biến đến xuất khẩu,trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhằm tạo ra một nền tảng kết nối chiến lược cho cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia và người nuôi, VietShrimp Asia 2026 lần đầu tiên tổ chức cùng Aquaculture Vietnam 2026 tạo nên kỳ triển lãm với quy mô mở rộng, toàn diện, quốc tế hơn bao giờ hết.

Vietshrimp
• 11:12 26/02/2026

Ngành nuôi tôm Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trong nhiều năm, nuôi tôm được xem là một trong những ngành nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, bối cảnh khí hậu hiện nay đang đặt ngành này trước một thực tế khác: rủi ro không còn mang tính mùa vụ, mà đang chuyển thành rủi ro cấu trúc.

tôm
• 11:12 26/02/2026

Sai lầm thường gặp khi phơi đáy ao

Trong nuôi trồng thủy sản, công đoạn phơi đáy ao sau mỗi vụ nuôi được xem là bước làm mới môi trường, giúp loại bỏ mầm bệnh và tạo nền tảng cho vụ nuôi tiếp theo. Tuy nhiên, nhiều hộ nuôi vẫn mắc phải những sai lầm cơ bản, khiến hiệu quả xử lý giảm sút, thậm chí gây thiệt hại lớn.

đáy ao nuôi
• 11:12 26/02/2026

Vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp: Khác nhau ở đâu và vì sao không nên dùng lẫn?

Vôi là vật tư quen thuộc trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng việc nhầm lẫn giữa vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Sử dụng sai loại không chỉ làm giảm hiệu quả cải tạo môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro cho cây trồng, vật nuôi.

vôi nuôi tôm
• 11:12 26/02/2026
Some text some message..