Thức ăn tôm thẻ: Sự khác biệt của Beta-glucan từ tảo

Đánh giá hiệu quả của beta-glucans có nguồn gốc từ tảo đến tăng trưởng, tỷ lệ sống và tình trạng miễn dịch của tôm thẻ chân trắng.

kiểm tra vó tôm
Tôm thẻ chân trắng ăn thức ăn chứa beta-glucan có nguồn gốc từ tảo giúp tôm tăng trưởng nhanh, miễn dịch tốt.

Chất kích thích miễn dịch từ lâu được xem là một chất thay thế hợp lệ để tối ưu hóa sức đề kháng chống lại các bệnh truyền nhiễm bằng cách cải thiện hệ thống miễn dịch của chúng. Một số loại chất đã được sử dụng làm chất kích thích miễn dịch, nhưng chỉ một số ít được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản. Beta glucan là thành phần chính của thành tế bào của nhiều loại thực vật, nấm, nấm men, vi khuẩn và tảo. Nhưng chúng thường chỉ được sử dụng từ các thành tế bào của nấm men (Saccharomyces cerevisiae), tuy nhiên, beta glucans có nguồn gốc từ Euglena gracilis, một loài tảo đơn bào nước ngọt được xem là một phương pháp thay thế tối ưu được bổ sung vào thức ăn nuôi trồng thủy sản bởi đặc tính dễ hòa tan và hàm lượng dinh dưỡng của chúng mang lại nên được sử dụng trong nghiên cứu này


Tảo đơn bào Euglena gracilis.

Đánh giá hiệu suất và trạng thái miễn dịch

Nghiên cứu này được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Dinh dưỡng và Thực phẩm tại Đại học Kasetsart tại Bangkok, Thái Lan. Thí nghiệm được tiến hành gồm 5 nghiệm thức bổ sung β glucan với các nồng độ 0, 0.15, 0.25, 0.35 và 0.5 g/kg thức ăn. Mỗi nghiệp thức được bố trí với mật độ 50 cá thể/hồ với trọng lượng tôm ban đầu là (~ 0,01 gram).

Chế độ ăn thử nghiệm được cho tôm ăn 5 lần một ngày với trọng lượng cơ thể từ 5 đến 8% trong 60 ngày. Chế độ ăn khởi đầu là (39,38% protein, 6,6% lipid, 2,45% lysine và 0,85% methionine). Các thành phần thức ăn được trộn và sấy khô sau đó được nghiền thành kích thước phù hợp 500 µm, 750 µm, 1 mm và 1,5 mm và được bảo quản ở nhiệt độ phòng.

Sau khi kết thúc thí nghiệm các nghiệm thức bổ sung β glucan  có trọng lượng cuối cùng cao hơn so với nghiệm thức không bổ sung β glucan và đạt giá trị cao nhất là nghiệm thức bổ sung 0.25 g/kg thức ăn là 1.79 gram, kế đến là nghiệm thức bổ sung 0.35 g/kg thức ăn đạt 1.77 gram, trong khi nghiệm thức đối chứng chỉ đạt 1.43 gram. Tương tự, hệ số chuyển hóa thức ăn của nghiệm thức đối chứng đạt giá trị FCR cao nhất 3.09 và thấp nhất ở nghiệm thức bổ sung 0.25 g/kg thức ăn với giá trị là 2,69.


Trọng lượng tôm ở các nghiệm thức sau 60 ngày nuôi.

Ngoài ra, tỉ lệ sống cũng bị ảnh hưởng bởi hàm lượng β glucan bổ sung vào thức ăn. Các nghiệm thức bổ sung β glucan đều có tỉ lệ sống cao hơn nghiệm thức không bổ sung β glucan. Nghiệm thức đối chứng có tỉ lệ sống thấp nhất chỉ đạt 46,6% và cao nhất là nghiệm thức bổ 0.25 g/kg thức ăn với tỉ lệ sống là 58.8%.

Tỷ lệ sống của tôm ở các nghiệm thức sau 60 ngày nuôi.

Tình trạng miễn dịch

Hemocytes là các tế bào miễn dịch ở tôm và các loài giáp xác khác và số lượng của chúng phản ánh tình trạng miễn dịch của động vật, với nồng độ hemocytes thấp so với các giá trị bình thường có liên quan đến việc giảm khả năng chống lại sự tấn công của mầm bệnh. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể (p <0,05) giữa các nghiệm thức về tổng số lượng tế bào máu. Nghiệm thức bổ sung β glucan  0.25 g/kg thức ăn có tổng tế bào máu cao nhất với giá trị là 10,90 x 106  (tế bào/mm3 ), kế đến là nghiệm thức bổ sung 0.35 g/kg thức ăn là 9,43x 106 (tế bào/mm3 ) và thấp nhất là nghiệm thức đối chứng 6,50x 106  (tế bào/mm3 ),

Sự gia tăng đáng kể về tổng số lượng tế bào máu với việc bổ sung beta glucan liên tục cho thấy hệ thống miễn dịch của L. vannamei đã được kích hoạt và với hiệu quả tối ưu ở mức độ bao gồm 0.25 g/kg thức ăn. Tuy nhiên, ở liều cao hơn tác dụng tích cực có thể bị đảo ngược.

Dựa trên kết quả thí nghiệm cho thấy beta glucans có nguồn gốc từ tảo có tác động mạnh đến tăng trưởng và cải thiện tình trạng miễn dịch của tôm giúp tăng cường tỉ lệ sống và kháng lại mầm bệnh. Bổ sung beta glucans từ tảo là biện pháp tối ưu rẻ tiền nên được bà con tin dùng để đảm bảo sức khỏe tối ưu của tôm đối với thời kỳ dịch bệnh như hiện nay.

Đăng ngày 17/03/2020
NHƯ HUỲNH Lược dịch

Mối liên quan của pH và NO2 trong ao nuôi tôm

Khí độc NO2 hình thành do sên vét, cải tạo ao ban đầu trước vụ nuôi thực hiện kém hiệu quả. Không loại được triệt để lượng bùn cũ trong ao, để bùn tồn số lượng nhiều. Nguồn nước giàu phù sa, chất lơ lửng, lợn cơn…không qua hệ thống ao lắng lọc, vào trực tiếp ao nuôi, là nguyên nhân hình thành khí độc NO2.

Tôm
• 14:19 12/06/2024

Diệt rong đá trong ao nuôi quảng canh

Ở ao nuôi tôm quảng canh, diện tích ao rất lớn với rất nhiều loài nuôi kết hợp cùng với tôm như cá, cua,... Việc quản lý và kiểm soát chất lượng môi trường nước ao nuôi cũng rất hạn chế, vì vậy một số loài rong thường sinh sản và phát triển gây ra khó khăn cho tôm được nuôi. Hôm nay chúng ta sẽ kể một số cách diệt rong, đặc biệt là rong đá, loài rong luôn xuất hiện trong ao nuôi tôm quảng canh trước nay.

Rong vuông tôm
• 09:54 11/06/2024

Giảm chi phí nuôi khi sử dụng máy cho tôm ăn tự động

Tối ưu hóa các chi phí trong quá trình nuôi tôm sẽ giúp người nuôi đạt được khoản lợi nhuận tối đa nhất có thể. Trong đó, chi phí thức ăn luôn chiếm hơn 50% tổng chi phí cả vụ, vì vậy việc thiết lập chu kỳ và lượng thức ăn cho mỗi ngày sao cho hợp lý là vấn đề đáng quan tâm nhất của bà con.

Máy cho tôm ăn tự động
• 09:00 09/06/2024

Sự tương tác giữa các yếu tố môi trường và độc lực vi khuẩn Aeromonas Hydrophila

Gần đây, một bài báo mới mô tả sự tác động phức tạp giữa vi khuẩn Aeromonas hydrophila và môi trường trong nuôi trồng thủy sản. Điều này hy vọng rằng sẽ cho phép các bên liên quan phát triển các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện các biện pháp quản lý và các giải pháp đổi mới để giảm thiểu tác động của các mầm bệnh này đối với ngành nuôi trồng thủy sản.

Nuôi trồng thủy sản
• 10:25 07/06/2024

Giải pháp chẩn đoán nhanh bệnh tôm

Nuôi tôm gặp khó khăn lớn là chưa xác định được nguyên nhân chính gây bùng phát dịch bệnh (con giống, môi trường hay thời tiết?) nên việc chẩn đoán nhanh bệnh tôm đang là con đường hạn chế thiệt hại. Một số cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp đã đưa ra giải pháp chẩn đoán nhanh bệnh tôm được người nuôi áp dụng.

Tôm
• 17:09 16/06/2024

Những phát hiện gần đây về nhiễm EHP ở tôm

Đánh giá này trình bày chi tiết những phát hiện gần đây liên quan đến nhiễm EHP ở các trang trại nuôi tôm, bao gồm ảnh hưởng của nó đến hệ miễn dịch, tiêu hóa, trao đổi chất, sinh lý và tăng trưởng của tôm.

Tôm bệnh
• 17:09 16/06/2024

Sử dụng hỗn hợp prebiotic trong Thủy sản: Kháng bệnh và miễn dịch

Hỗn hợp prebiotic, sự kết hợp β-glucan và MOS đã được báo cáo rộng rãi trong nhiều nghiên cứu rằng nó có thể làm tăng khả năng kháng bệnh của nhiều loại động vật thủy sản.

Cá nuôi
• 17:09 16/06/2024

Sử dụng hỗn hợp prebiotic trong Thủy sản: Sức khỏe và Tăng trưởng

Việc áp dụng prebiotic làm phụ gia thức ăn là một trong những cách khắc phục tình trạng lạm dụng kháng sinh trong quản lý sức khỏe loài thủy sản (Kari và cộng sự, 2021; Song và cộng sự, 2014; Zulhisyam và cộng sự, 2020).

Cá nuôi
• 17:09 16/06/2024

Cơ hội xuất khẩu thủy sản năm 2024 - 2025

Ngành thủy sản Việt Nam là ngành mới nổi với số lượng rất lớn và đóng góp đáng kể cho nền kinh tế đất nước, đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Năm 2022, khối lượng xuất khẩu thủy sản đạt 11 tỷ USD là cột mốc quan trọng; chúng tôi đặt mục tiêu 10 tỷ USD vào năm 2024 và 12 tỷ USD vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, ngành thủy sản cần một chiến lược dài hạn toàn diện và sự hỗ trợ rộng rãi từ mọi phía để giúp họ đảm bảo những gì họ muốn đạt được trong giai đoạn giữa 2024 và 2025.

Cá
• 17:09 16/06/2024
Some text some message..