2 giai đoạn của EMS trên tôm nuôi: diễn biến cụ thể qua kính hiển vi

Hội chứng tôm chết sớm (EMS) đã và đang gây thiệt hại nghiêm trọng đến ngành công nghiệp nuôi tôm Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác.  Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm ra nguyên nhân cũng như biện pháp phòng trị EMS. Đi tiên phong trong nghiên cứu về EMS trên thế giới và đáp ứng được sự mong đợi của nhiều người, đầu năm 2013, phòng nghiên cứu bệnh học của trường đại học Arizona (Mỹ) đã bước đầu xác định được nguyên nhân gây bệnh, đặt nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.

EMS, AHPNS, hội chứng tôm chết sớm
Ảnh: Cả 2 mẫu tôm thẻ chân trắng bị nhiễm EMS với cơ quan gan tụy bị teo

Tuy chưa thể ngăn chặn được dịch bệnh, nhưng nghiên cứu này cũng mang lại nhiều hi vọng cho công nghiệp nuôi tôm ở nước ta.

Dấu hiệu bên ngoài của EMS

Gan tụy teo nhỏ. Thường là màu vàng nhạt hoặc màu trắng trong các viên nang mô liên kết của gan tụy. Đôi khi có thể nhìn thấy đốm hoặc vết đen.

Ảnh 1: Hình tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam (bên trái: tôm nhiễm EMS, bên phải: tôm bình thường)

Ảnh 2: Mẫu tôm sú bệnh thu ở Việt Nam (gan tụy nhạt màu và teo, đường ruột rỗng)

Khảo sát bằng kính hiển vi phóng đại 40 lần mặt cắt mô gan tụy cho thấy các tế bào bài tiết bình thường (B), các tế bào dữ trự mỡ (R) và các tế bào basophilic (F) to lên. Các tế bào E, nhiều tế bào đang trong quá trình nguyên phân được nhìn thấy ở phần hình nhỏ (phóng đại 20 lần).

Ảnh 3: Các tế bào ống lượn gan tụy (R, B, F & E)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, EMS có 2 giai đoạn xảy ra trên tôm nuôi.

Giai đoạn 1: Giai đoạn sớm của bệnh (quan sát trên tôm thẻ chân trắng của Trung Quốc)   

Ảnh 4: Gan tụy bình thường (trên) và gan tụy nhiễm EMS giai đoạn sớm (dưới) 

Ảnh 5: Quan sát mô bệnh trên tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam (ống lượn gan tụy có dấu hiệu bong tróc, một số ổ tụ máu và dường như là có sự xuất hiện của vi khuẩn cơ hội Vibrio, phóng đại 10 lần).

Ảnh 6: Quan sát trên tôm sú Việt Nam ở kính phóng đại 20 lần, cho thấy mức độ tổn thương của gan

Ảnh 7: Hình kính hiển vi phóng đại 40 lần, mô gan tụy từ tôm sú P. monodon bị nhiễm nặng ở giai đoạn đầu của bệnh EMS. Phần ngọn ống (với các tế bào E) vẫn nguyên vẹn, còn các phần gần ống gan tụy hơn cho thấy sự hoại tử và kết dính các tế bào biểu mô ống.

Giai đoạn 2: Giai đoạn cuối kết thúc với sự tàn phá gan tụy do vi khuẩn cơ hội Vibrio spp.

Ảnh 8: Mẫu bệnh quan sát trên tôm sú (bệnh có sự tiến triển, có sự nhiễm khuẩn thứ cấp của ống gan tụy, nghi ngờ là do vi khuẩn cơ hội Vibrio spp.

Ảnh 9: Quan sát trên tôm thẻ chân trắng của Việt Nam (giai đoạn cuối của EMS cho thấy hầu hết các ống gan tụy bị phá hủy, nhiễm trùng nặng do các vi khuẩn cơ hội Vibrio spp., phóng đại 4 lần)

Ảnh 10: Quan sát trên tôm thẻ chân trắng của Việt Nam (giai đoạn cuối của EMS cho thấy hầu hết các ống gan tụy bị phá hủy, nhiễm trùng nặng do các vi khuẩn cơ hội Vibrio spp., phóng đại 20 lần)

Ảnh 11: Quan sát trên tôm thẻ chân trắng của Trung Quốc, phóng đại 20 lần.

Ảnh 12: Quan sát trên tôm sú của Việt Nam (giai đoạn cuối của EMS cho thấy hầu hết các ống gan tụy bị phá hủy, nhiễm trùng nặng do các vi khuẩn cơ hội Vibrio spp.,)

Tóm lại, các nhân gây bệnh cụ thể đã được xác định là do nhiễm khuẩn.

Bệnh lý: thoái hóa gan tụy (HP), rối loạn chức năng của tất cả các tế bào HP, nổi bật là hoại tử và bong tróc các tế bào biểu mô ống lượn. Giai đoạn cuối đánh dấu viêm tế bào máu và nhiễm khuẩn thứ cấp xảy ra kết hợp với các tế bào ống lượn HP hoại tử.

Các tác nhân gây bệnh được ghi nhận

Rối loạn chức năng của ống gan tụy nghiệm trọng khi nhiễm vi khuẩn cơ hội Vibrio spp. Tuy nhiên, Vibrio spp. Không phải là tác nhân gây bệnh, mà sau khi nhiễm khuẩn thì giai đoạn này tạo cơ hội cho nguyên nhân gây bệnh EMS. Thêm vào đó, kết quả các thí nghiệm còn cho thấy rằng: 

- Thức ăn được kiểm tra không phải là nguyên nhân gây bệnh.

- Thử nghiệm Cypermethrin trong phòng thí nghiệm cũng không gây bệnh EMS.

- Thử nghiệm các yếu tố gây nhiễm (virus, vi khuẩn, kí sinh trùng) cho đến nay cũng chưa xác định được.

Các nghiên cứu tiếp theo

1, So sánh protein để tìm kiếm độc tố độc nhất, điều chỉnh protein trong tôm có hay không có ảnh hưởng EMS

2, So sánh quần thể vi khuẩn trên tôm nhiễm và không nhiễm EMS.

3, Nghiên cứu sự lây lan của  các vi khuẩn phân lập từ tôm nhiễm EMS.

Đăng ngày 17/07/2013
Lê Hải Quỳnh (tổng hợp từ hội thảo về EMS tại trường Đại học Nông Lâm TPHCM ngày 28/06/2013)
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Nhớt bạt ao nuôi tôm, nguyên nhân và cách xử lý

Nhớt bạt ao nuôi tôm là hiện tượng xuất hiện một lớp nhớt mỏng, trơn, màu trắng đục hoặc vàng nâu bám trên bề mặt bạt ao nuôi (đáy và thành ao). Đây là hiện tượng phổ biến trong ao nuôi tôm lót bạt HDPE và thường xảy ra sau một thời gian nuôi hoặc sau khi ao có nhiều chất hữu cơ tích tụ.

Ao tôm
• 14:04 12/01/2026

Tại sao cá lóc hay ăn thịt lẫn nhau? Kỹ thuật lọc cỡ để không bị hao hụt số lượng

Tập tính ăn thịt đồng loại ở cá lóc là nguyên nhân hàng đầu gây hao hụt đầu con trong nuôi thâm canh. Hiểu rõ bản năng săn mồi và áp dụng kỹ thuật lọc cỡ đúng thời điểm là chìa khóa giúp người nuôi bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh giá thức ăn tăng cao.

Cá lóc
• 08:57 08/01/2026

Kiểm chứng các kinh nghiệm truyền miệng trong ngành nuôi tôm

Nuôi tôm là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nơi mỗi biến động nhỏ của môi trường đều có thể dẫn đến thiệt hại vô cùng nghiêm trọng.

Nuôi tôm thẻ
• 11:38 02/01/2026

VNF Infographic Series: Chitosan – Khả năng tạo màng/tạo gel

Bạn có biết chitosan không chỉ là một polymer tự nhiên thân thiện với môi trường, mà còn có khả năng tạo gel/ màng film với đặc tính kháng khuẩn/kháng nấm, giữ ẩm và phân hủy sinh học?

Chitosan
• 14:35 07/02/2026

VietShrimp Asia: Hành Trình 10 Năm – Bước Ngoặt Mới cùng Aquaculture Vietnam

VietShrimp Asia: Hành Trình 10 Năm – Bước Ngoặt Mới cùng Aquaculture Vietnam

vietshrimp
• 14:35 07/02/2026

Nguồn cung cá nước ngọt dồi dào dịp Tết

Cận Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu thụ thủy sản tăng cao khiến người nuôi cá nước ngọt kỳ vọng vào một vụ thu hoạch khởi sắc. Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn cung dồi dào và sức mua thị trường còn chậm, giá nhiều mặt hàng cá vẫn neo ở mức thấp, buộc người nuôi tiếp tục chờ đợi cao điểm Tết để cải thiện đầu ra.

cá
• 14:35 07/02/2026

Khuyến cáo khi nuôi tôm nước lợ năm 2026

Trước dự báo thời tiết năm 2026 diễn biến phức tạp với nắng nóng kéo dài, mưa trái mùa và xâm nhập mặn gia tăng, ngành nông nghiệp TP Cần Thơ khuyến cáo người nuôi tôm nước lợ tuân thủ khung lịch thời vụ, chủ động quản lý môi trường ao nuôi nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất.

nuoi-tom
• 14:35 07/02/2026

Điều chỉnh môi trường nuôi tôm để có màu sắc đẹp nhằm nâng giá trị khi thu hoạch

Trong nuôi tôm thương phẩm, kích cỡ chỉ là một phần. Màu sắc vỏ và thịt tôm mới là yếu tố quyết định lớn đến giá bán. Tôm có màu sáng, thân trong, vỏ bóng thường được thương lái ưu tiên hơn, trong khi tôm xỉn màu, đỏ sậm hoặc đục thân dễ bị ép giá, dù trọng lượng đạt chuẩn.

tom
• 14:35 07/02/2026
Some text some message..