Cần chú trọng độ đồng đều khi lựa chọn thức ăn tôm thẻ

Ngoài độ đạm thì độ đồng đều cũng là yếu tố quan trọng khi lựa chọn thức ăn tôm thẻ. Sự chênh lệch kích thước và trọng lượng giữa các viên thức ăn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm.

tôm thẻ vắt mồi
Độ đạm, kích cỡ, độ đồng đều quyết định hiệu quả sử dụng thức ăn tôm thẻ. Ảnh: Tepbac.

Độ đồng đều của thức ăn tôm thẻ là yếu tố quan trọng

Theo TCVN 10325:2014 về Thức ăn hỗn hợp cho tôm thẻ chân trắng đã quy định kích thước, hàm lượng đạm thức ăn công nghiệp sử dụng trong nuôi tôm thẻ chân trắng tương ứng giai đoạn sử dụng theo trọng lượng tôm. Theo tiêu chuẩn này, có 6 số thức ăn từ 1 đến 6, tương ứng 2 dạng thức ăn chính là mảnh và viên. 

Ở dạng thức ăn mảnh, chênh lệch kích thước và trọng lượng giữa các mảnh thức ăn, không ảnh hưởng việc sử dụng thức ăn của tôm, do kích thước tôm còn nhỏ.

Khi nuôi tôm thẻ được 20 ngày tuổi, trọng lượng cơ thể 0,2 gr/con, tương đương khoảng 5.000 con/kg, bắt đầu cho tôm ăn thức ăn viên cỡ 1,0 mm. Ở kích cỡ viên trên, sự chệnh lệch kích thước và trọng lượng giữa các viên thức ăn không ảnh hưởng nhiều đến kết quả sử dụng thức ăn của tôm.

Tuy nhiên, khi nuôi tôm thẻ được 30 - 35 ngày tuổi, trọng lượng cơ thể 1,3 – 1,5 gr/con, tương đương khoảng 800 con/kg, bắt đầu cho tôm ăn thức ăn viên cỡ 1,2 mm. Ở kích cỡ viên trên, nếu có sự chênh lệch kích thước và trọng lượng giữa các viên thức ăn, sẽ ảnh hưởng nhiều đến kết quả sử dụng thức ăn của tôm.

tôm thẻ chân trắng
Sự chênh lệch kích cỡ thức ăn gây hao mồi, FCR cao. Ảnh: Tepbac.

Khi kích thước viên thức ăn tôm thẻ không đều nhau, kéo theo trọng lượng giữa các viên chênh lệch, tôm sẽ sử dụng viên thức ăn lớn, do dễ gắp, gắp nhiều viên, đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của cữ ăn. Viên nhỏ tôm không ăn, do khó gắp, tốn nhiều thời gian để đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của cữ ăn, tiêu hao nhiều năng lượng trong hoạt động bắt mồi. Nếu có sự chênh lệch kích thước, trọng lượng viên thức ăn, ảnh hưởng đến hoạt động bắt mồi, kết quả sử dụng thức ăn kém, sẽ gây hao mồi làm FCR cao, tôm đói cục bộ do ăn không đủ nhu cầu, dù cho ăn đủ lượng.

Trong trường hợp cho ăn bằng tay, sự chênh lệch kích thước, trọng lượng viên thức ăn thấy rõ ràng những ảnh hưởng xấu. Tôm trong ao phân đàn, xuất hiện nhiều tôm ruột nhỏ, ruột ít thức ăn, đường ruột mờ, gan mờ. Tôm kéo đàn tìm kiếm thức ăn do đói. Tôm tăng trưởng chậm, ốp vỏ, phát triển cơ thể không cân đối. Nước ao nuôi trở màu xanh rau má hoặc nâu đen, ô nhiễm hữu cơ diễn ra nhanh trong thời gian ngắn. Nước hôi, keo đặc, nhiều bột khí nổi trên mặt nước, khó tan. Khí độc trong ao nuôi như NH3, NO2 tăng cao, oxy trong ao giảm nhanh. Tôm nổi đầu sáng sớm, chiều mát, do thiếu oxy.

Trong trường hợp cho ăn bằng máy, do sự chênh lệch kích thước, trọng lượng viên thức ăn thì máy sẽ phun không đều. Do trọng lượng và kích thước chênh lệch, viên thức ăn lớn, nặng, máy sẽ phun xa. Viên thức ăn nhỏ và nhẹ hơn, sẽ rơi gần bờ. Nếu tôm nhỏ cách xa bờ hoặc tôm lớn tập trung gần bờ, đều không sử dụng được thức ăn do kích thước viên thức ăn không phù hợp. Tiếp sau đó, chắc chắn quá trình ô nhiễm môi trường sẽ diễn ra.

Cách lựa chọn thức ăn tôm thẻ 

Từ những diễn giải trên, qua thực tế sản xuất. Bà con chủ động cho tôm ăn thức ăn có kích cỡ phù hợp, đảm bảo hoạt động bắt mồi tốt nhất. Không ngoại trừ trường hợp dùng thức ăn tôm thẻ có kích thước lớn hơn, so trọng lượng tôm, so thời gian nuôi, nhiều công ty hướng dẫn sử dụng trên bao bì thức ăn. Chọn lựa thức ăn đều cỡ, kích thước viên thức ăn đồng nhất, màu nâu sẫm. Viên thức ăn bóng, mịn, ít bụi, đường kính viên thức ăn phẳng, vết cắt gọn, không mẻ. Mùi thơm hấp dẫn, ngậm nước chậm, lâu tan trong nước, giữ hình dạng ban đầu khi ngâm lâu trong nước, giữ mùi thơm khi ngâm trong nước.

Tất cả những đề cập trên góp phần tối ưu hoá sử dụng thức ăn, tiêu thụ thức ăn, chuyển hoá thức ăn, của tôm thẻ chân trắng, trong quá trình nuôi. Hạn chế những ảnh hưởng xấu đã đề cập trên, tăng hiệu quả hoạt động ăn mồi, sử dụng thức ăn, đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng để tăng trưởng. Môi trường ổn định, hạn chế tối đa ô nhiễm hữu cơ, hạn chế khí độc trong ao nuôi, duy trì đủ dưỡng khí cho tôm trong ao hoạt động, phát triển. Tôm phát triển đều cỡ, tỷ lệ sống cao, mau rút về size lớn, FCR thấp.


Thức ăn tôm thẻ cần đáp ứng các yêu cầu về độ đạm, kích cỡ, độ đồng đều. Ảnh: Tepbac.

Nhu cầu dinh dưỡng của tôm thẻ chân trắng, theo TCVN 10325:2014 về Thức ăn hỗn hợp cho tôm thẻ chân trắng, công bố hàm lượng đạm từ 34 – 38%. Tuy nhiên, thời điểm chúng tôi viết bài, năm 2022, kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng đã có nhiều thay đổi vượt bậc về công nghệ. Nếu sử dụng hàm lượng đạm theo tiêu chuẩn trên, không thể nuôi mật độ cao, chắc chắn nuôi thời gian dài để đạt kích thước hàng hoá, FCR cao do nuôi thời gian dài. Với hàm lượng đạm trên, việc rút size tôm khó thực hiện cho kết quả tốt.

Hiện nay, bà con nuôi tôm thẻ chân trắng theo mô hình công nghệ cao, siêu thâm canh. Mật độ thả nuôi dày ≥ 200 con/m2, thời gian nuôi rút ngắn ≤ 120 ngày, yêu cầu tôm đạt size lớn ≤ 20 - 25 con/kg, hệ số thức ăn FCR khống chế ở mức ≤ 1.2…Việc chủ động điều chỉnh hàm lượng đạm sử dụng phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của tôm trong ao là yếu tố quyết định. Để tối ưu hoá nhu cầu sử dụng thức ăn, đảm bảo tôm phát triển tốt, đạt các thông số trên thì thông thường, tháng nuôi đầu, bà con sử dụng hàm lượng đạm 38 – 40%, sau đó tăng dần hàm lượng đạm 42% trở lên, từ tháng nuôi thứ 2 đến khi thu hoạch sau cùng. Với phương pháp nâng đạm tăng dần qua các tháng nuôi, san thưa, thu tỉa, nếu mật độ quá dày, tôm thẻ chân trắng vẫn phát triển, tăng trưởng tốt, rút size nhanh, đều cỡ, vỏ bóng đẹp, thịt săn chắc, nặng ký. FCR thấp như kỳ vọng, tôm về size lớn.

Đăng ngày 07/09/2022
Lý Vĩnh Phước @ly-vinh-phuoc
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Hiệu quả nuôi cá mú trân châu thương phẩm: Từ giống đến thu hoạch

Cá mú trân châu (cá mú lai) đang trở thành đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế cao tại nhiều địa phương ven biển Việt Nam. Nhờ tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao và chất lượng thịt ngon, loài cá này được nhiều hộ nuôi lựa chọn phát triển trong các hệ thống nuôi lồng bè trên biển và ao đất ven bờ.

cá mú trân châu
• 19:15 11/03/2026

Giảm phụ thuộc Artemia trong sản xuất tôm giống: Xu hướng mới của các trại giống

Artemia từ lâu được xem là nguồn thức ăn sống quan trọng trong sản xuất giống tôm và cá biển. Tuy nhiên, chi phí cao, biến động chất lượng và rủi ro an toàn sinh học đang khiến nhiều trại giống tìm kiếm các giải pháp thay thế hoặc giảm phụ thuộc vào nguồn thức ăn này.

tôm
• 12:00 11/03/2026

Ao nổi lót bạt HDPE cùng rốn xả xi-phông giải pháp chủ động phòng ngừa dịch bệnh

Sự chuyển dịch từ ao đất truyền thống sang mô hình ao nổi lót bạt kết hợp rốn xả xi-phông đang trở thành cuộc cách mạng công nghệ trong ngành chăn nuôi thủy sản. Hệ thống thiết kế khép kín này không chỉ giải quyết triệt để bài toán ô nhiễm môi trường nước mà còn là chìa khóa vàng giúp người nông dân kiểm soát hoàn toàn rủi ro dịch bệnh.

ao bạc
• 19:00 10/03/2026

Nắng nóng mùa hè: Cảnh giác bệnh vểnh mang ở tôm nuôi

Bước vào mùa hè, nhiều vùng nuôi tôm ở Việt Nam bắt đầu đối mặt với những đợt nắng nóng kéo dài. Nhiệt độ nước ao có thể tăng lên trên 32–34°C vào buổi trưa, trong khi hàm lượng oxy hòa tan giảm mạnh.

tôm bị vểnh mang
• 15:00 07/03/2026

Phụ thu 10% và những điều chỉnh tức thời của thị trường nhập khẩu thủy sản tại Hoa Kỳ

Chính sách phụ thu nhập khẩu 10% của Hoa Kỳ đang tạo ra nhiều biến động đối với thị trường thủy sản toàn cầu, buộc các nhà nhập khẩu phải nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh doanh, chuỗi cung ứng và cấu trúc chi phí. Diễn biến này được dự báo sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 2026.

chế biến thủy sản
• 13:02 17/03/2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời cử tri TP.HCM về giải pháp ngăn thực phẩm bẩn

Trước lo ngại về tình trạng sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, thủy sản và thực phẩm không rõ nguồn gốc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường hậu kiểm và xử lý nghiêm vi phạm để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

cá
• 13:02 17/03/2026

Làm Thế Nào Để Một Trang Trại Cá Có Thể Kiếm Được Lợi Nhuận?

Lợi nhuận trong nuôi cá không đến từ việc cắt giảm chi phí bằng mọi giá, mà đến từ khả năng tối ưu biên lợi nhuận trên mỗi kilogram cá bán ra. Điều này phụ thuộc vào ba yếu tố cốt lõi: lựa chọn loài nuôi, phương thức nuôi và chiến lược thức ăn.

• 13:02 17/03/2026

Xung Đột Trung Đông Leo Thang: Chuỗi Cung Ứng Thủy Sản Việt Nam Đối Mặt Rủi Ro Lớn

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), Trung Đông đang nổi lên là một trong những thị trường tăng trưởng đáng chú ý của thủy sản Việt Nam.

cảng
• 13:02 17/03/2026

Chuyển giao công nghệ tạo giống tôm kháng bệnh (SPR)

Việc chuyển giao thành công kỹ thuật chọn giống kháng bệnh chính là chìa khóa giải quyết triệt để rủi ro từ gốc rễ, thay vì thụ động chạy chữa bằng hóa chất như trước đây.

tôm
• 13:02 17/03/2026
Some text some message..