Giảm chi phí cho nuôi tôm công nghệ biofloc bằng thức ăn rẻ tiền hơn

Các nhà nghiên cứu của Mỹ và Trung Quốc cho thấy việc sử dụng thức ăn rẻ hơn với tỉ lệ C/N hợp lý vừa có thể thúc đẩy hoạt động của tôm trong hệ thống biofloc vừa giúp người nuôi tiết kiệm chi phí sản xuất.

Giảm chi phí cho nuôi tôm công nghệ biofloc bằng thức ăn rẻ tiền hơn
Ảnh: LL/Tepbac

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một thử nghiệm hai yếu tố để đánh giá ảnh hưởng của hai loại thức ăn tôm thương phẩm và bốn tỷ lệ C / N khác nhau đến phát triển biofloc, chất lượng nước, hiệu suất tăng trưởng, sử dụng thức ăn và chi phí đầu vào trong hệ thống bể ngoài trời nuôi tôm thẻ chân trắng với mật độ cao và không trao đổi nước.

Hai loại thức ăn được sử dụng trong nghiên cứu này là: thức ăn rẻ tiền hơn(0,99USD/1kg thức ăn) được xây dựng cho hệ thống sản xuất bán thâm canh và loại khác đắt hơn (1,75USD/1kg) được thiết kế cho các hệ thống siêu thâm canh. Carbon hữu cơ (mật đường) được bổ sung hàng ngày để cung cấp cho hệ thống nuôi, tỷ lệ carbon được tính toán cho tỷ lệ nitơ (C / N) là 12: 1, 15: 1 và 18: 1 dựa trên hàm lượng carbon-nitrogen của thức ăn và hàm lượng carbon của mật đường trong suốt thử nghiệm. Và một nhóm đối chứng có tỷ lệ C / N là 9: 1. Mỗi nghiệm thức có bốn bể được phân bố ngẫu nhiên, và mỗi bể chứa đầy 500L nước giàu biofloc. Tôm vị thành niên (kích thước 2,21 ± 0,11 g) được thả mật độ 300 con/m3 và thí nghiệm tiến hành trong 6 tuần.

Tại sao tỉ lệ C/N lại quan trọng?

Tôm thẻ chân trắng thái bình dương là một loại tôm có giá trị thương mại trên toàn cầu. Tuy nhiên việc phát triển nuôi loài tôm này đã dẫn tới ô nhiễm môi trường và nguy cơ bùng phát dịch bệnh.

Để giảm thiệt hại một mô hình nuôi đã được đưa ra là nuôi tôm trong hệ thống biofloc không trao đổi nước. Việc sử dụng biofloc có thể kiểm soát chất lượng nước bằng việc loại bỏ các nguyên tố N độc hại đồng thời cải thiện sử dụng thức ăn và tăng trưởng tôm nuôi.

Tỉ lệ C/N đối với hầu hết thức ăn thương mại được thiết kế để sử dụng trong hệ thống nuôi thâm canh là 10:1. Các báo cáo trước đây cho thấy khi điều chỉnh tỷ lệ C/N một cách hợp lý sẽ kích thích các hoạt động miễn dịch và chống stress của vật nuôi tốt hơn rất nhiều. Góp phần gia tăng tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm/cá nuôi.


Bổ sung carbohydrate hoặc carbon hữu cơ ngoài những gì có sẵn từ thức ăn có thể làm tăng tỷ lệ giúp phát triển biofloc. Ngoài ra trong nuôi tôm thâm canh, chi phí thức ăn chiếm ít nhất 50% tổng chi phí cho việc nuôi trồng. Chi phí bao gồm giá thức ăn, tỉ lệ chuyển đổi thức ăn và cả 2 đều này đều liên quan đến chất lượng thức ăn chăn nuôi.

Theo nhà sản xuất: thức ăn ít tốn kém hơn trong thí nghiệm được xây dựng để có 35%protein thô, 7%lipid và 4% chất xơ, thức ăn này thiết kế cho hệ thống bán thâm canh. Với thức ăn mắc tiền hơn thành phần thức ăn được xây dựng 35% protein thô, 7%lipid và 2% chất xơ được áp dụng cho mô hình nuôi siêu thâm canh.

Mật đường được sử dụng như một nguồn carbon hữu cơ để tạo ra tỉ lệ C/N. Tỷ số được xác định dựa trên hàm lượng carbon-nitrogen của thức ăn và mật đường. Vì vậy, mục đích nghiên cứu này là khám phá tác động của việc giảm lượng bổ sung cacbon hữu cơ mà không ảnh hưởng đến hiệu suất của tôm để giảm chi phí đầu vào trong các hệ thống công nghệ biofloc (BFT) không thay nước.

Kết quả nghiên cứu cải tiến tỉ lệ C/N trong nuôi tôm

Khi tôm ăn hai loại thức ăn thương mại, một loại được thiết kế cho các hệ thống nuôi bán thâm canh và một cho các loại siêu thâm canh, và bổ sung môi trường nuôi cấy với các tỷ lệ C / N khác nhau (9: 1, 12: 1, 15: 1 và 18: 1) đã có tác động đáng kể đến phát triển biofloc, chất lượng nước, hiệu suất tăng trưởng, sử dụng thức ăn và chi phí đầu vào trong điều kiện nghiên cứu hiện tại.

Bắt đầu nuôi tôm với nước giàu biofloc và sau đó bổ sung một lượng nhỏ cacbon hữu cơ thường xuyên có thể duy trì hiệu quả sự phát triển liên tục của biofloc hỗn hợp trong các hệ thống nuôi tôm có mật độ cao. Tất cả bốn cấp độ C / N dẫn đến tỷ lệ sống cao với cả hai loại thức ăn được sử dụng.

Trọng lượng cuối cùng, tỷ lệ tăng trưởng, tỷ lệ sống, năng suất và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn bị ảnh hưởng đáng kể bởi tỷ lệ thức ăn và C / N.

Chất lượng nước tốt nhất, hiệu suất tôm và FCR đạt được ở nghiệm thức có tỷ lệ C / N là 12: 1 cho cả hai loại thức ăn. Phân tích chi phí thức ăn và biến đổi cho thấy lợi ích kinh tế được cải thiện khi sử dụng thức ăn ít tốn kém hơn của SI-35 theo các điều kiện của nghiên cứu này. Hơn nữa, chi phí đầu vào có thể được giảm xuống bằng cách sử dụng tỷ lệ C / N là 12: 1 do giảm mật đường và sử dụng NaHCO3 để duy trì độ pH khi tỉ lệ C/N tăng lên.


Ảnh: Agua Blanca Seafood

Tỷ lệ thức ăn và C / N có ảnh hưởng đến hiệu suất của các hệ thống nuôi tôm bằng hệ thống biofloc không trao đổi nước. Chất lượng nước tốt nhất và hiệu suất của tôm thẻ chân trắngở tỷ lệ C / N là 12: 1. Nghiên cứu này đã cho thấy rằng mặc dù được nuôi với mật độ cao 300c/m3 và sử dụng thức ăn rẻ tiền nhưng nếu bổ sung mật đường hợp lý thì vẫn đảm bảo môi trường và tiết kiệm được chi phí thức ăn. 

Báo cáo được đăng trên tạp chí nuôi trồng thủy sản và aquafeed.

Đăng ngày 12/06/2018
VĂN THÁI (Lược dịch)
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Bỏ túi bí quyết giảm hệ số FCR xuống dưới 1.2 mà không cần đổi loại thức ăn

Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm và cá thâm canh, thức ăn thường chiếm 50–65% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không chỉ là một chỉ số kỹ thuật mà còn là thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế. Chênh lệch 0,1 FCR ở quy mô vài chục tấn có thể tạo ra khoảng cách lợi nhuận rất lớn.

tôm
• 10:00 14/02/2026

Chủ động phòng bệnh TiLV – bảo vệ đàn cá rô phi ngay từ đầu vụ

Tilapia Lake Virus (TiLV) đang được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với ngành nuôi cá rô phi toàn cầu. Virus này có thể gây tỷ lệ chết lên tới 80–90%, lây lan nhanh và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

cá rô phi
• 12:00 11/02/2026

Những nguyên tắc nền tảng trong nuôi tôm

Nuôi tôm không phải là việc dễ dàng – nhưng việc thực hiện đúng các bước căn bản có thể giúp ao nuôi của bạn đạt năng suất cao và sạch bệnh.

tôm
• 12:00 08/02/2026

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 18:43 19/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 18:43 19/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 18:43 19/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 18:43 19/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 18:43 19/02/2026
Some text some message..