Gừng và hành tây có tác dụng tăng tỉ lệ sống cho cá nhiễm bệnh.
Gừng và hành tây trong nuôi trồng thủy sản
Nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học chứng minh rằng hành tây và gừng có khả năng tăng cường sự chống chịu căng thẳng và tăng tỷ lệ sống sót của các loài cá khi nhiễm V. harveyi JML1.
Giới thiệu:
Thành phần hoá học của gừng: Gừng có 1-3% tinh dầu mà thành phần chủ yếu là a- camphen, b-phelandren một carbur là zingiberen một alcol sesquiterpen, các phenol (cineol, citral, borneol, geraniol, linalol, zingiberol. Ngoài ra còn có 3,7% lipid, tinh bột và 5% nhựa dầu trong đó có các chất cay như zingeron, zingerol, và shogaol.
Thành phần hóa học hành tây giàu về đường, vitamin A, B, C, muối khoáng, Na, K, P, Ca, Fe, S, l, Si, H3PO4, acid acetic, disulfur allyl và propyl, dầu bay hơi, glucokinin, oxydase và diastase.
Hành tây và gừng có đặc tính tăng cường sức khoẻ, chính điều đó làm cho chúng trở thành thực phẩm chức năng. Hiệu quả của đối với hoạt tính kháng khuẩn của chúng được kiểm tra ở cá mú nâu, Epinephelus fuscoguttatus.
4 khẩu phần bổ sung hành tây 1,8%, gừng ở 1,8%, Vitamin C 0,86% và β glucan 0,8% trong khuẩu phần ăn. Chế độ ăn uống không bổ sung được sử dụng làm đối chứng. Sau 12 tuần cho ăn, cá đã được gây nhiễm thực nghiệm vi khuẩn gây bệnh là Vibrio harveyi JML1.

Có thể bạn quan tâm
Kết quả
Sau khi tiếp xúc nhiều lần với tình trạng giảm oxy huyết, nồng độ cortisol tăng lên đáng kể ở cá không được ăn bổ sung so với thức ăn củ hành, gừng, β-glucan, hoặc vitamin C.
Trong nhóm cá có bổ sung hoạt chất, nồng độ cortisol của nhóm cá đối chứng và nhóm β-glucan. Tương tự, tiếp xúc cấp tính với tỉnh trạng căng thẳng do oxy tăng đáng kể cortisol trong huyết tương ở nhóm không bổ sung so với những nhóm nhận được chất bổ sung.
Một lần nữa, không có sự khác biệt đã trong các nhóm bổ sung trừ β-glucan. Việc tiếp xúc cấp tính với tình trạng thiếu oxy làm tăng đáng kể tỷ lệ chết tích lũy (CM) trong nhóm đối chứng so với các nhóm bổ sung, ngoại trừ β-glucan, trong khi tiếp xúc nhiều lần với tình trạng thiếu ôxy gây stress và tỷ lệ chết tích lũy tăng đáng kể trong nhóm đối chứng 10 ngày sau nhiễm V harveyi JML1. Trong khí các nhóm cá có bổ sung các chất có hoạt tính sinh học lại có tỷ lệ chết thấp hơn đáng kể.
Kết luận
Từ các kết quả phân tích trên, hầu hết các nhóm cá có ăn bổ sung hành tây, gừng và vitamic C đều có kết quả tốt hơn so với nhóm đối chứng nhưng các chất bổ sung tốt nhất là hành tây và gừng vì tăng cường khả năng chịu căng thẳng và tăng tỷ lệ sống sót của loài cá mú nâu khi nhiễm V. harveyi JML1.
Nghiên cứu được đăng trên: Researchgate
Bài viết liên quan
Vôi và biện pháp bón vôi cho ao nuôi cá hiệu quả
Bài viết cung cấp các loại vôi sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, vai trò của chúng, một số phương pháp và lưu ý để bón vôi cho ao nuôi cá h...
10/06/2019 · 182,699 lượt xem
Kỹ thuật nuôi Moina(Trứng nước)
Trứng nước, còn gọi là bo bo (Moina), một loài giáp xác nước ngọt nhỏ, là thức ăn cho cá b...
15/06/2017 · 157,831 lượt xem
Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi một số loài cá nước ngọt
Những năm gần đây, mô hình nuôi cá trong ao nước ngọt đang được các hộ nông dân Quảng Trị...
22/05/2019 · 145,937 lượt xem
Tảo độc trong ao nuôi tôm và biện pháp quản lý
Tảo bao gồm các sinh vật tự dưỡng, gồm một hay nhiều tế bào có cấu tạo đơn giản, có màu kh...
21/03/2017 · 126,786 lượt xem