Nguyên nhân và biện pháp trị bệnh đen thân trên cá rô đồng

Dạo gần đây, Cá rô đồng nuôi thâm canh thường gặp tình trạng đen thân, tưa mang, xù vảy, thân lở loét, sưng nội tạng.... Việc chẩn đoán, điều trị rất khó khăn, thường kéo dài, khó trị dứt điểm.

Cá rô đồng
Cá rô đồng

Cá rô đồng là loài cá bản địa, có sức chịu đựng tốt với điều kiện môi trường không thuận lợi, luôn biến động liên tục bởi thời tiết, khí hậu, thông số môi trường. Hiện nay, cá rô đồng được bà con nuôi thâm canh, mật độ thả nuôi khá cao. Thường bà con thả nuôi từ cá bột, mật độ trung bình 500.000 – 1.000.000 cá bột/1.000 m2 ao, sau thời gian nuôi 4,5 - ≥ 5 tháng thì tiến hành thu hoạch cá thương phẩm. Tuy nhiên, do nuôi mật độ cao nên tỷ lệ sống của cá thả nuôi từ giai đoạn cá bột, đến khi thu hoạch cá thương phẩm thường rất thấp. Trung bình, tỷ lệ sống các mô hình nuôi cá rô đồng hiện nay dao động từ 5 – 10 %, một số rất ít mô hình nuôi đạt ≤ 15 %. 

Nguyên nhân mắc bệnh 

Rất nhiều nguyên nhân tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ sống của cá. Trong suốt quá trình nuôi, từ tháng nuôi đầu tiên đến khi thu hoạch, cá hay bị hiện tượng đen thân, tưa mang, xù vảy, lở loét cơ thể, viêm sưng hoặc kèm theo xuất huyết nội tạng.  

Cải tạo và xử lý ao ban đầu, xử lý nguồn nước nuôi không triệt để, là nguyên nhân làm môi trường nước nuôi không đạt yêu cầu. Nguồn gốc giống, chất lượng cá giống, vấn đề trùng huyết do di truyền lai gần, cũng là nguyên nhân làm sức khỏe cá suy giảm, sức đề kháng kém, tạo điều kiện cho các địch hại tấn công. Sử dụng thuốc kháng sinh, hoá chất quá nhiều, liên tục, làm môi trường nước nuôi ô nhiễm, vi khuẩn lờn thuốc. Cùng thời điểm với hiện tượng trên, chất lượng nguồn nước nuôi cá thường kém, thông số môi trường nước không đạt yêu cầu.  

Cá rô đồngChất lượng nguồn nước xấu, thông số môi trường bất lợi, biến động thời tiết rất thuận lợi cho vi khuẩn tấn

Thời tiết chuyển xấu, ngày nắng nóng, đôi khi kèm mưa lớn bất chợt, đêm nhiệt độ xuống thấp, chênh so ban ngày 8 – 10 độ C khiến cá bị sốc nhiệt. Nắng nóng kéo dài khiến tảo độc như tảo lam, tảo mắt, phát triển mạnh trong ao nuôi. Chất lượng, định lượng thức ăn không hợp lý, gây dư thừa, ô nhiễm nguồn nước. Chất lượng nguồn nước xấu, thông số môi trường bất lợi, biến động thời tiết rất thuận lợi cho nấm, ký sinh trùng, vi khuẩn như Edwardsiella ictalurid, Aeromonas sp, Streptococcus…trong ao phát triển, tấn công, gây hại cho cá nuôi.  

Biểu hiện bệnh của cá 

Cá rô đồng bị bệnh có một hoặc nhiều dấu hiệu như sau: 

- Cá bơi lội, di chuyển khó khăn, hay xuất hiện mé bờ, bơi lờ đờ trên mặt nước, cá búng, nhảy lên khỏi mặt nước, cá hay lao nhanh về phía trước, bơi lội vô hướng, tụ tập số lượng lớn nơi nước chảy vô ao. 

- Da cá chuyển từ màu sáng sang tối sẫm, đen hoặc trắng nhạt, có hiện tượng xuất huyết dưới da, mưng mủ, ghẻ, hoại tử.  

- Mang tưa rách, lá mang, tia mang, chuyển từ màu hồng đỏ sang hồng nhạt hoặc trắng, mang bị rách, tưa, đứt từng mảng.  

- Vảy cá xù lên, bong ra từng mảng, xuất hiện vết thương nơi vảy tổn thương. Mắt cá lồi dần, chuyển từ trong sang đục, mưng mủ.   

- Hậu môn sưng to, lồi ra ngoài, xuất huyết hậu môn. Bụng cá trương to, tiến hành mổ cá, nội tạng xuất huyết, nội quan viêm, sưng tấy. Ruột ít hoặc không có thức ăn.  

- Nấm, ký sinh trùng bám nhiều bên ngoài cơ thể cá, ký sinh trùng bên trong nội tạng.   

- Cá đớp móng (các bong bóng nhỏ do cá ăn mồi trên mặt nước tạo nên) chậm , bong bóng lâu tan, do nhiều nhớt trong miệng không được làm sạch. Cá giảm hoặc bỏ ăn, cá chết số lượng tăng dần. 

Bên cạnh đó, việc nguồn nước ô nhiễm, keo đặc, có nhiều bọt lâu tan nổi trên mặt nước, nước ao bốc mùi tanh, hôi thối cũng là dấu hiệu quan trọng nhận biết sức khỏe cá không tốt.  

Ao cá rô đồngKhi cho ăn lại, nên bắt đầu bằng lượng ăn 50% so với lúc đầu. Ảnh: navifeed.vn

Phương pháp phòng ngừa  

Trước khi tiến hành vụ nuôi, bà con nên sên vét bùn đáy, di chuyển bùn ra khỏi ao nuôi, gia cố bờ, cống, trảm mọi, bón vôi sống CaO hoặc Ca(OH)2, liều lượng 25 – 30 kg/100m2 ao, phơi ao 3 – 5 ngày (chỉ phơi khô ao trong trường hợp ao không bị phèn đáy).  

Lấy nước qua túi lọc vào ao lắng, lắng lọc kỹ bằng thuốc tím (KMnO4); PAC (Poly Aluminum Chloride), diệt tảo độc bằng hydrogen peroxide (H2O2) hay còn gọi là oxy già. Xử lý kim loại nặng, bà con có thể dùng EDTA (Ethylene Diamine Tetraacetic Acid), xử lý nước bằng Chlorin Ca(ClO)2, Trichlorocyanuric axít - TCCA (C3N3O3Cl3), Benzalkonium Chloride (BKC), Iodine (I2)…liều lượng sử dụng theo nhà sản xuất sản phẩm hướng dẫn trên bao bì. Nước sau khi xử lý kỹ, dẫn qua ao nuôi sử dụng. Quá trình thay nước, bà con nên dùng nguồn nước đã qua xử lý các loại hoá chất trên.  

Sử dụng nguồn giống khoẻ, có nguồn gốc rõ ràng, thả nuôi mật độ 300.000 – 500.000 cá bột/1.000 m2 ao. Cá bột nên thực hiện công đoạn ương ao riêng, sau 1 tháng ương, bà con chặt lồng lọc cá, loại bớt cá đực, chuyển sang ao nuôi thương phẩm, thả nuôi mật độ 100 – 200 cá giống cỡ 300 con/kg/1.000 m2 ao.  

Trong quá trình nuôi thương phẩm, bà con chọn thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 40 – 27% theo giai đoạn phát triển, theo trọng lượng cá nuôi và tháng nuôi. Sử dụng viên thức ăn từ size dạng mảnh đến 4.0 mm. Bà con cần định lượng thức ăn theo nhu cầu sử dụng thực tế của cá, đảm bảo tỷ lệ cho ăn từ 10 – 3 % so với trọng lượng thân cá, phụ thuộc giai đoạn phát triển, trọng lượng cá nuôi và tháng nuôi. 

Cá rô đồng thương phẩmCá rô đồng thương phẩm đạt kích cỡ đồng đều, dày thịt  

Biện pháp cải thiện hiệu quả 

Trong quá trình nuôi, khi cá có dấu hiệu bị bệnh, bà con tiến hành ngưng không cho cá ăn 1- 2 ngày. Thay 20–30 % nước, dùng Chloramine B (C6H5SO2NClNa); Iodine (I2) để diệt vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng… trong nước, liều dùng theo hướng dẫn nhà sản xuất. Ban đêm đánh bổ xung Cao hoặc Ca(OH)2, liều 2 – 3 kg/100m2 ao, cải thiện nền đáy. Ban ngày đánh vi sinh EM ủ, kết hợp đường và Vitamin C.  

Khi cho ăn lại, nên bắt đầu bằng lượng ăn 50% so với lúc đầu, sau đó nâng dần theo nhu cầu sử dụng của cá. Thức ăn nên chủ động bổ xung chất hỗ trợ gan như Sorbitol, Methionine, Choline, Inositol, Beta glucan, B12, Premix, Acid hữu cơ, Acid amin thiết yếu, khoáng chất, vi sinh đường ruột có lợi như Lactobacillus, Bacillus sp, Bacillus subtilis, Saccharomyces, Streptococcus sp …các Enzyme tiêu hóa như Amylase, Cellulase, Protease, lipase, Phytase, chế phẩm sinh học Probiotic, Prebiotic… 

Bà con hạn chế sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi, trong trường hợp bất đắc dĩ phải sử dụng, bà con nên sử dụng không quá 5 ngày, tốt nhất 3 ngày, sau đó ngưng thuốc, tập trung giải độc gan, tăng cường sức khoẻ, đề kháng cho cá. Sau tháng nuôi đầu tiên, định kỳ, bà con dùng Praziquantel, Ivermectin, Albendazole, Fenbendazole… sổ ký sinh trùng cho cá, liều lượng theo hướng dẫn của công ty sản xuất thuốc. Sau khi sổ cần diệt khuẩn nước, tập trung tăng cường sức khoẻ cho cá, tăng đề kháng, giúp cá tăng trưởng, phát triển nhanh.  

Đăng ngày 22/12/2023
Lý Vĩnh Phước @ly-vinh-phuoc
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Bỏ túi bí quyết giảm hệ số FCR xuống dưới 1.2 mà không cần đổi loại thức ăn

Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm và cá thâm canh, thức ăn thường chiếm 50–65% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không chỉ là một chỉ số kỹ thuật mà còn là thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế. Chênh lệch 0,1 FCR ở quy mô vài chục tấn có thể tạo ra khoảng cách lợi nhuận rất lớn.

tôm
• 10:00 14/02/2026

Chủ động phòng bệnh TiLV – bảo vệ đàn cá rô phi ngay từ đầu vụ

Tilapia Lake Virus (TiLV) đang được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với ngành nuôi cá rô phi toàn cầu. Virus này có thể gây tỷ lệ chết lên tới 80–90%, lây lan nhanh và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

cá rô phi
• 12:00 11/02/2026

Những nguyên tắc nền tảng trong nuôi tôm

Nuôi tôm không phải là việc dễ dàng – nhưng việc thực hiện đúng các bước căn bản có thể giúp ao nuôi của bạn đạt năng suất cao và sạch bệnh.

tôm
• 12:00 08/02/2026

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 08:23 20/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 08:23 20/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 08:23 20/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 08:23 20/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 08:23 20/02/2026
Some text some message..