Sử dụng 3 loại dầu thực vật thay thế dầu cá trong ương ghẹ giống
Ương ghẹ giống bằng dầu thực vật
Bên cạnh việc thay thế nguồn đạm từ bột cá bằng bột thực vật, nhiều nghiên cứu tập trung đánh giá khả năng thay thế dầu cá bằng dầu thực vật hướng đến thức ăn cho động vật thủy sản hoàn toàn không dùng cá. Trong nghiên cứu này sử dụng nhiều loại dầu thực vật khác nhau để thay thế dầu cá trong thức ăn của ấu trùng ghẹ xanh.
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm bao gồm 5 nghiệm thức với 3 lần lặp lại được trình bày trong Bảng. Ấu trùng ghẹ xanh giai đoạn Megalope sau khi lột xác thành ghẹ giống sau 12h được dùng cho thí nghiệm. Ghẹ giống được cho ăn 2 lần/ngày, thức ăn thừa và phân được xiphong mỗi ngày. Trong suốt 35 ngày thí nghiệm tỉ lệ sống và lột xác của ghẹ được ghi nhận mỗi ngày.
|
Nghiệm thức |
Loại dầu thực vật sử dụng thay thế dầu cá |
|
FO |
Dầu cá (Fish oil) |
|
SBO |
Dầu đậu nành (Soybean oil) |
|
CO |
Dầu hạt cải (Canola oil) |
|
LSO |
Dầu lanh (Linseed oil) |
|
PO |
Dầu cọ (Palm oil) |
Kết quả nghiên cứu
Các chỉ tiêu tăng trưởng và tỷ lệ sống:
Tỷ lệ sống ở các nghiệm thức dao động từ 62,5 – 87,5% cao nhất ở nghiệm thức SBO và thấp nhất ở nghiệm thức PO. Tăng trưởng của ghẹ được đánh giá thông qua chiều rộng carapace (CW), chiều dài carapace (CL) và trọng lượng (WT), kết quả cho thấy dầu cọ (PO) cho CW, CL và WT thấp nhất trong các nghiệm thức, cao nhất ở nghiệm thức sử dụng dầu đậu nành (SBO) và dầu lanh (LSO).
Chu kỳ lột xác của ghẹ:
Chu kỳ lột xác của ghẹ được theo dõi trong suốt quá trình thí nghiệm, thí nghiệm theo dõi ghẹ qua 4 giai đoạn lột xác từ C1-C2, C2-C3, C3-C4, và C4-C5. Kết quả cho thấy trong hai giai đoạn đầu C1-C2 và C2-C3 khác biệt không có ý nghĩa giữa các nghiệm thức thí nghiệm. Giai đoạn C3-C4 và C4-C5 cho thấy ghẹ ở nghiệm thức SBO có thời gian dài hơn, khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức FO, CO và LSO.
Có thể bạn quan tâm
Hàm lượng cholesterol:
Hàm lượng cholesterol cao nhất ở nghiệm thức FO (42,10 ± 3,57 mg/100g) khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại. Thấp nhất ở nghiệm thức PO (21,49 ± 3,17 mg/100g).
Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả của việc sử dụng dầu lanh (LSO), dầu đậu nành (SBO) hay dầu hạt cải (CO) có khả năng thay thế hoàn toàn dầu cá (FO) trong công thức thức ăn cho ghẹ xanh giống (Portunus pelagicus).
Riêng dầu cọ (PO) được xem là nguồn nguyên liệu rẻ tiền sẵn có, việc thay thế dầu cá bằng dầu cọ trong thức ăn cho ghẹ xanh hay cua giúp giảm đáng kể giá thành. Tuy nhiên, thí nghiệm cho thấy khả năng sử dụng PO trong thức ăn ương ghẹ giống là không cao, ảnh hưởng đến tăng trưởng và quá trình chuyển hóa cholesterol của ghẹ. Cần có nhiều nghiên cứu khả năng sử dụng PO trong thức ăn ghẹ trưởng thành góp phần giảm giá thành thức ăn trong nuôi ghẹ thương phẩm.
Báo cáo gốc trên: Medcraveonline
Bài viết liên quan
Nghiên cứu sản xuất tảo từ phụ phẩm nhiên liệu sinh học để dùng trong sản xuất giống tôm thẻ chân trắng.
Một đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở Đại học Đông Nam Nova (NSU), bang Florida, Mỹ đã chứng minh rằng các loại thức ăn có sử dụng...
05/04/2017 · 4,742 lượt xem
Ảnh hưởng của Genistein trong thức ăn cá
Genistein ảnh hưởng đến sự hình thành giống cái cá bơn nhưng nếu bổ sung vào thức ăn với h...
17/11/2017 · 3,623 lượt xem
Sử dụng nước thải trong ngành công nghiệp rượu để sản xuất protein
Một nhà khoa học người Scotland đã phát triển giải pháp bền vững để tăng hàm lượng Omega t...
13/07/2017 · 3,173 lượt xem
Tính hai mặt của ấu trùng ruồi lính đen
Sản lượng từ nuôi trồng thủy sản toàn cầu tăng trưởng gần gấp đôi trong vòng 15 năm trở lạ...
16/02/2022 · 72,310 lượt xem