Dùng Ozone kiểm soát nấm, vi khuẩn trên trứng và ấu trùng cua biển

Nghiên cứu cho thấy ozone có khả năng kiểm soát tốt bệnh nấm, vi khuẩn và kí sinh mà không ảnh hưởng đến chất lượng trứng và ấu trùng cua biển.

Cua biển.
Cua biển.

Cua biển (Scylla paramamosain) là đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao. Do tăng trưởng nhanh, có kích thước lớn và dễ dàng bảo quản sau khi thu hoạch nên cua biển được xem như đối tượng thay thế tôm ở vùng ven biển khi cần thiết.Trong những năm gần đây, diện tích nuôi cua biển ngày càng tăng dẫn đến nguồn cua giống tự nhiên giảm mạnh vì hoạt động khai thác con giống phục vụ cho nghề nuôi thương phẩm. 

Hiện nay, nguồn giống cung cấp cho nghề nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và ở Việt Nam nói chung chủ yếu từ sinh sản nhân tạo. Tuy nhiên, việc sản xuất giống hiện nay với tỷ lệ sống còn tương đối thấp và chưa ổn định vì nhiều nguyên nhân như nhiễm nấm, nguyên sinh động vật , vi khuẩn từ cua mẹ và môi trường và chất lượng nước trong quá trình ấp trứng.

Gần đây, ozone được sử dụng nhiều trong nuôi trồng thủy sản vì hiệu quả sát trùng cao đối với các sinh vật gây bệnh như vi khuẩn, virus, nấm và nguyên sinh động vật.

Nghiên cứu được tiến hành bao gồm bốn nghiệm thức thí nghiệm với tần suất xử lý ozon khác nhau gồm: (i) đối chứng (xử lý iodine), (ii) xử lý ozone 1 ngày/lần, (iii) xử lý ozone 2 ngày/lần và (iv) xử lý ozone 3 ngày/lần.

Kết quả cho thấy xử lý ozone không ảnh hưởng đến sinh sản của cua: sức sinh sản tương đối của cua giữa các nghiệm thức dao động trong khoảng 7,62x103– 10,50x103 trứng/g cua mẹ. Tỷ lệ thụ tinh dao động từ 94,2 – 97,0% và khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) giữa các nghiệm thức.

Tỷ lệ trứng cua thải ít nhất (21,6%) ở nghiệm thức xử lí iodine, kế đến là nghiệm thức xử lý ozone 1 ngày/lần (26,0% )và cao nhất (31,7%) ở nghiệm thức xử lý ozone với tần suất 3 ngày/lần. Sự khác biệt này là do trứng bị nhiễm ký sinh trùng và nấm do tần suất xử lý ozone thưa hơn nên trứng bị đào thải dần trong suốt quá trình ấp.

Tỷ lệ nở ở nghiệm thức xử lý iodine (62,3%) không khác biệt so với nghiệm thức xử lý ozone 1 ngày/lần (57,4%)  nhưng khác biệt có ý nghĩa với nghiệm thức xử lý ozone 2 ngày/lần (32,2%) và 3 ngày/lần (15,5%).

Sau 11 ngày ấp, tỷ lệ trứng nhiễm ký sinh trùng thấp nhất ở nghiệm thức xử lý ozone với tần suất 1 ngày/lần (8,45%) và không khác biệt với nghiệm thức xử lý iodine (9,05%), nhưng khác biệt với nghiệm thức xử lý ozone 2 ngày/lần (15,22%) và 3 ngày/lần (16,45%). Tỷ lệ trứng nhiễm nấm cũng cao nhất ở nghiệm thức xử lý ozone 3 ngày/lần (6,67%).

Mật độ vi khuẩn cao nhất ở nghiệm thức xử lý iodine (1,35 x 104 cfu/mL) cao hơn so với  nghiệm thức xử lý ozone 1 ngày/lần (0,50 x 104 cfu/mL), 2 ngày/lần (0,55 x 104 cfu/mL) và 3 ngày/lần (0,73 x 104 cfu/mL).

Kết quả thí nghiệm đã cho thấy hiệu quả diệt vi khuẩn của ozone lên đến 75,3 – 75,6% sau khi xử lý với nồng độ 0,1 mg/L trong 60 giây (CT = 0,1) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với nghiệm thức xử lý bằng iodine (64,8%).

Như vậy, mặc dù xử lý trứng bằng iodine cho tỷ lệ nở và tổng số zoea 1 cao hơn so với xử lý ozone 1 ngày/lần nhưng khi xử lý cua ôm trứng bằng iodine thì cua ôm trứng phải được ngâm iodine 1 mg/L trong suốt thời gian nuôi. Trong khi đó, thời gian xử lý cua trứng bằng ozone nhanh hơn (chỉ tắm cua trứng trong 60 giây).

Tỷ lệ nở và tổng số ấu trùng thu được ở nghiệm thức sử dụng ozone tần suất 1 ngày/lần là 57,4% và 4,25 x 103 ấu trùng/g cua mẹ thấp hơn không có ý nghĩa (p>0,05) so với nghiệm thức đối chứng lần lược 62,3% và 5,51 x 103 ấu trùng/g cua mẹ. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy, xử lý ozon với tần suất 1 ngày/lần giúp kiểm soát tốt bệnh nấm, vi khuẩn và kí sinh mà không ảnh hưởng đến chất lượng trứng và ấu trùng cua biển.

Theo Nguyễn Việt Bắc và Vũ Ngọc Út, trường Đại học Cần Thơ 
Đăng ngày 16/12/2020
Như Huỳnh
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Nhớt bạt ao nuôi tôm, nguyên nhân và cách xử lý

Nhớt bạt ao nuôi tôm là hiện tượng xuất hiện một lớp nhớt mỏng, trơn, màu trắng đục hoặc vàng nâu bám trên bề mặt bạt ao nuôi (đáy và thành ao). Đây là hiện tượng phổ biến trong ao nuôi tôm lót bạt HDPE và thường xảy ra sau một thời gian nuôi hoặc sau khi ao có nhiều chất hữu cơ tích tụ.

Ao tôm
• 14:04 12/01/2026

Tại sao cá lóc hay ăn thịt lẫn nhau? Kỹ thuật lọc cỡ để không bị hao hụt số lượng

Tập tính ăn thịt đồng loại ở cá lóc là nguyên nhân hàng đầu gây hao hụt đầu con trong nuôi thâm canh. Hiểu rõ bản năng săn mồi và áp dụng kỹ thuật lọc cỡ đúng thời điểm là chìa khóa giúp người nuôi bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh giá thức ăn tăng cao.

Cá lóc
• 08:57 08/01/2026

Kiểm chứng các kinh nghiệm truyền miệng trong ngành nuôi tôm

Nuôi tôm là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nơi mỗi biến động nhỏ của môi trường đều có thể dẫn đến thiệt hại vô cùng nghiêm trọng.

Nuôi tôm thẻ
• 11:38 02/01/2026

Những thông số bắt buộc phải biết trên nhãn mác thủy sản đóng gói

Trong chuỗi cung ứng thực phẩm hiện đại, nhãn mác trên bao bì thủy sản đã trở thành một hệ thống dữ liệu kỹ thuật phức tạp thay vì những dòng mô tả cơ bản.

Tôm thẻ
• 13:50 28/01/2026

Mẹo chọn hải sản tươi khi đi chợ: Nhìn đúng để mua không bị hớ

Việc lựa chọn hải sản tươi ngon là bước đầu tiên và quan trọng để có một bữa ăn hấp dẫn, giàu dinh dưỡng. Chỉ cần quan sát và kiểm tra vài chi tiết nhỏ, người mua hoàn toàn có thể phân biệt được đâu là hải sản tươi, đâu là hàng kém chất lượng. Dưới đây là những dấu hiệu cơ bản, dễ áp dụng khi chọn tôm, cua, và cá.

Tôm thẻ
• 13:50 28/01/2026

Nuôi ghép tôm và rong nho

Mô hình nuôi ghép tôm thẻ chân trắng và rong nho là phương thức canh tác kết hợp hai đối tượng nuôi trên cùng một diện tích mặt nước hoặc trong hệ thống tuần hoàn.

Tôm thẻ
• 13:50 28/01/2026

Kỹ thuật vận chuyển và thả tôm giống trong điều kiện rét đậm đầu năm 2026

Những đợt rét đậm đầu năm 2026 trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm giống trong khâu vận chuyển và thả nuôi. Để đảm bảo sức khỏe đàn tôm, người nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt các thông số về nhiệt độ, mật độ đóng gói và quy trình thuần hóa môi trường trước khi bắt đầu vụ nuôi.

Tôm thẻ giống
• 13:50 28/01/2026

Thủy sản Việt Nam giữ vững top 3 nguồn cung lớn nhất tại Singapore

Năm 2025 khép lại với tin vui từ đảo quốc sư tử khi kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt mức tăng trưởng hai con số, vượt mốc 125 triệu SGD. Kết quả này giúp Việt Nam bảo vệ thành công vị trí top 3 nhà cung cấp lớn nhất, khẳng định vị thế vững chắc trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của các đối thủ sừng sỏ.

Tôm đông lạnh
• 13:50 28/01/2026
Some text some message..