Thử nghiệm hệ thống sản xuất tôm giống thâm canh sử dụng công nghệ biofloc

Giai đoạn ấp trứng là một bước đầu tiên quan trọng và phức tạp trong việc nuôi thương mại giốngtôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, để sản xuất tôm giống có chất lượng tốt nhất có thể thì việc thường xuyên giám sát giai đoạn này là cần thiết.

thu nghiem he thong nuoi
Ảnh minh họa

Việc sử dụng công nghệ biofloc (BFT) đang gia tăng trong nuôi trồng nhiều loài thủy sản thương mại quan trọng. BFT được sử dụng để tăng cường sản xuất và giảm thiểu hoặc ngăn chặn việc thay nước trong quá trình nuôi thủy sản, từ đó giảm các mầm bệnh tiềm năng và giảm việc xả nước thải chứa nhiều chất nuôi dưỡng vào môi trường.

Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (Litopenaeus vannamei) giữa các giai đoạn ấu trùng của M1 và hậu ấu trùng PL5 (bảy ngày sau khi thử nghiệm) bằng cách sử dụng một hệ thống BFT với việc bổ sung các-bon hữu cơ (mật đường hoặc dextrose) và không có trao đổi nước.

Trại sản xuất tôm giống và công nghệ BFT

Giai đoạn ấp trứng là một giai đoạn quan trọng trong việc sản xuất tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, giai đoạn này yêu cầu sự giám sát liên tục. Giai đoạn ấp trứng kéo dài từ giai đoạn ấu trùng đến giai đoạn hậu ấu trùng postlarva 5 (PL5). Ở giai đoạn này, tôm rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố căng thẳng về vật lý, hóa học và sinh học, chẳng hạn như sự bùng phát vibriosis.

Sản xuất tôm giống truyền thống được thực hiện trong một môi trường chủ yếu là tự dưỡng với tỷ lệ trao đổi nước hàng ngày ở mức cao. Ở giai đoạn này, vi tảo giàu axit béo không bão hòa được bổ sung mỗi ngày sau khi trao đổi nước. Những vi tảo này không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho ấu trùng tôm, mà cũng cho phép kiểm soát các cấp độ ammonia nitrogen trong bể.

Các tác động không mong muốn kết hợp với hệ thống sản xuất như vậy - chẳng hạn như việc xả khối lượng lớn nước với mức độ cao của ammonia nitrogen và phốt pho (vi tảo, phân, và thức ăn thừa) - có thể không được mong đợi trong nhiều hệ sinh thái ven biển và có thể dẫn đến các rủi ro khác. Trong bối cảnh này, đôi khi cần nắm bắt được các chi phí kinh tế về mặt năng lượng, nhiệt và sự phân bố lượng nước lớn cũng cần được xem xét.

Việc giảm sự trao đổi nước đòi hỏi kiểm soát ammonia  từ sự dị hóa protein vì nó gây độc hại cho tôm. Ammonia i-on hóa và ammonia không i-on hóa có mặt trong nước của bể nuôi với tỷ lệ khác nhau bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như pH, nhiệt độ và độ mặn. Dạng ammonia  không i-on hóa độc hại cho tôm hơn là ammonia i-on hóa, và dạng ammonia này gây ra nhiều thiệt hại về sinh lý do áp lực của nó đối với các hợp chất không phân cực của màng sinh chất.

Trong các hệ thống BFT không trao đổi nước, việc kiểm soát ammonia bắt đầu ở giai đoạn hình thành sự cân bằng cácbon-nitơ, tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn dị dưỡng, mà kết hợp ammonia nitrogen từ môi trường. Mối quan hệ này được thiết lập thông qua việc bổ sung nguồn cácbon hữu cơ (mật đường, bột, đường, và dextrose) vào môi trường nuôi trồng thủy sản. Nó đòi hỏi 20 g hy-đrát-các-bon, hoặc khoảng 6 g các-bon để chuyển đổi 1 g ammonia nitrogen thành sinh khối vi khuẩn.

Trong hệ thống nuôi BFT, vi khuẩn tự dưỡng và vi khuẩn dị dưỡng tham gia vào sự hình thành của bioflocs, bao gồm một sự tập hợp của tảo, nấm, động vật nguyên sinh, trùng bánh xe và giun. Vì vậy, ngoài việc kiểm soát ammonia, bioflocs có thể tạo nguồn thức ăn trong bể nuôi tôm.

Việc sử dụng các hệ thống BFT trong giai đoạn tiền ương giống và nuôi vỗ nuôi tôm biển đã được nghiên cứu rộng rãi. Tuy nhiên, các nghiên cứu có hệ thống với BFT mà không trao đổi nước trong giai đoạn sản xuất giống như một giải pháp thay thế cho các hệ thống sản xuất tiêu chuẩn của ấu trùng tôm thẻ chỉ mới bắt đầu.

Thiết lập nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Cameroon Marine (LCM), Khoa Thuỷ sản, Đại học Liên bang Santa Catarina, Brazil. Trước khi thí nghiệm, ấu trùng của giống tôm L. vannamei được nuôi trong một bể 20 m3 (mật độ 100 con/L), bể ấp trứng bán trụ ở độ mặn 35 ppm cho đến khi các ấu trùng này đạt đến giai đoạn mysis1.

Các vi tảo Chaetoceros muelleri (5 × 104 tế bào/ml) được thêm vào môi trường nước nuôi hàng ngày. Khi ấu trùng đạt đến giai đoạn M1, ấu trùng được chuyển giao cho các bể thực nghiệm 60 L (200 M1/L), trong đó ban đầu đã được lấp đầy bằng nước giống với nước từ bể ương trứng trước đó. Ấu trùng được cho ăn 9 lần một ngày (08h00, 10h00, 12h00, 14h00, 16h00, 18h00, 21h00, 23h00, và 03h00) và với số lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất thức ăn cho từng giai đoạn ấu trùng. Ấu trùng Artemia cũng được cung cấp cho các ấu trùng tôm ở mức 6 Ấu trùng Artemia cho mỗi mysis hay tôm bột postlarva, 5 lần mỗi ngày (09h00, 11h00, 15h00, 17h00, và 00h00).

Ba nhóm ấu trùng đã được thiết lập: một nhóm kiểm soát được nuôi trong một hệ thống tự dưỡng thông thường với việc thay nước và bổ sung các vi tảo được thực hiện hàng ngày, và hai nhóm thí nghiệm được nuôi trong một hệ thống dị dưỡng không thay nước.

Để giữ tổng ammonia nitrogen (TAN) dưới mức tối đa được thiết lập là 1 mg/L, nước của các bể kiểm soát được trao đổi ở mức tỷ lệ dao động từ 50% mỗi ngày vào lúc bắt đầu thí nghiệm đến 200% trong giai đoạn cuối cùng của sự nuôi dưỡng. Sau khi trao đổi nước, vi tảo Chaetoceros muelleri được đếm và được thêm vào để duy trì mức 5 × 104 tế bào/ml.

Nguồn cácbon hữu cơ đã được thêm (chia làm 4 lần mỗi ngày) vào bể biofloc để duy trì nồng độ ammonia thấp hơn 1 mg/L. Dextrose khan (100% hy-đrát-các-bon) đã được thêm vào một nhóm, và mật đường mía (55% hy-đrát-các-bon, 3% protein thô) được thêm vào nhóm thứ hai.

Việc tăng cường dinh dưỡng cho bể nuôi với các-bon hữu cơ đã được thực hiện theo 2 cách:

1) Lượng hy-đrát-các-bon cần thiết để trung hòa a-mô-ni bị đào thải được ước tính thông qua giả định rằng tôm đồng hóa 25% nitơ thực phẩm và 75% nitơ còn lại được chuyển thành ammonia hòa tan trong nước. Nguồn các-bon đã được thêm vào hàng ngày cho mỗi bể với tỷ lệ 20 g hy-đrát-các-bon cho mỗi g TAN.

2) Khi nồng độ TAN vượt quá 1 mg/L, hy-đrát-các-bon (mật đường hoặc dextrose) đã được bổ sung vào hệ thống theo tỷ lệ 20 g hy-đrát-các-bon cho mỗi g TAN vượt quá.

Các kết quả

Người ta đã thực hiện việc phân tích về vật lý và hóa học hàng ngày đối với nước, cũng như phân tích vi sinh của nước vào cuối thí nghiệm. Tất cả các thông số chất lượng nước vẫn nằm trong phạm vi thích hợp cho giai đoạn sản xuất giống của L. vannamei. Những thông số này cũng tương tự như trong các hệ thống sản xuất thông thường có tỷ lệ trao đổi nước hàng ngày ở mức cao (kiểm soát), và các hệ thống sản xuất BFT với cả hai nguồn các-bon hữu cơ (dextrose và mật đường).

Các giá trị trung bình của TAN và a-mô-ni-ắc không ion hóa vẫn dưới mức độc hại (tổng ammonia <1,3 mg/L và không ammonia <0,05 mg/L). Việc sử dụng mật đường dẫn đến các giá trị thấp nhất của ammonia.

Tổng ammonia tăng lên phần nào trong nhóm được bổ sung dextrose trong 2 ngày cuối cùng của thí nghiệm. Tuy nhiên, mức trung bình của ammonia độc hại trong các nhóm BFT không khác biệt đáng kể so với nhóm kiểm soát trong bất kỳ ngày nào của thí nghiệm.

Các số đo nitrit (<0.02 mg/L) cho thấy quá trình nitrat hóa không được thiết lập trong quá trình thí nghiệm và rằng các hoạt động của cộng đồng vi khuẩn dị dưỡng đã kiểm soát thành công ammonia trong nhóm BFT.

Số lượng vi khuẩn dị dưỡng trong nước lớn hơn đối với nhóm được bổ sung mật đường và dextrose so với nhóm kiểm soát. Tuy nhiên, không có sự khác biệt nào về số lượng vibrionaceae giữa các nhóm.

Chất lượng ấu trùng, hiệu suất nuôi trồng, tỷ lệ sống khi độ mặn thấp (19 mg/L) và việc sử dụng nước cũng được đánh giá. Các nhà nghiên cứu đã không thấy bất kỳ sự khác biệt nào trong các thông số về chất lượng ấu trùng giữa các phương pháp trên. Tất cả các ấu trùng đều hoạt động (hoạt động bơi cao), có dự trữ lipít, màu sắc gan tụy bình thường và ruột đầy đủ. Các nhà nghiên cứu không tìm thấy dị tật, ký sinh trùng epibiont, tình trạng hoại tử hoặc tình trạng cơ yếu.

Tỷ lệ sống cuối cùng, chiều dài cơ thể, trọng lượng khô và sự tồn tại trong môi trường độ mặn thấp không khác nhau giữa các nhóm, điều này cho thấy sự đồng nhất với các thông số sản xuất và sức đề kháng của ấu trùng.

Phương pháp BFT cần khoảng 12% nước sử dụng bởi các nhóm kiểm soát. Việc giảm lượng nước như vậy cần thiết cho giai đoạn sản xuất tôm giống sẽ làm giảm các chi phí liên quan đến việc lấy nước, khử trùng và trung hòa, sưởi ấm và bơm nước cho các trại giống.

Triển vọng

Việc sử dụng các hệ thống biofloc mà không cần thay nước được bổ sung mật đường hoặc dextrose làm nguồn các-bon dẫn đến các chỉ số sản xuất và chất lượng nước thỏa đáng trong giai đoạn sản xuất giống của L. vannamei. Do nước không trao đổi trong các hệ thống biofloc, nên chỉ khoảng 12% nước được sử dụng trong các hệ thống tự dưỡng thông thường. Đây là một cách tiếp cận vệ sinh, kinh tế và sinh thái phù hợp có thể phát triển hơn nữa..

Fistenet, 05/10/2016
Đăng ngày 05/10/2016
Hồ Như Nguyệt (theo Global Aquaculture Advocate)
Nuôi trồng

FLOCponics: Sự tích hợp hoàn hảo của công nghệ biofloc và cây thủy canh

FLOCponics là một loại Aquaponics thay thế tích hợp công nghệ biofloc (BFT) với sản xuất cây trồng không sử dụng đất.

flocponics
• 15:51 07/03/2022

Mô hình nuôi ba ba lãi 300 triệu đồng/năm

Mô hình nuôi ba ba của ông Lương Thành Kỷ, ở thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp. Qua 14 năm phát triển, đến nay đàn ba ba sinh sản của ông Kỷ đã phát triển hơn 1.500 con, mỗi năm xuất bán ra thị trường từ 8.000-10.000 con giống, trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận gần 300 triệu đồng/năm.

Ba ba.
• 09:38 14/06/2021

Kinh tế ổn định nhờ nuôi ba ba sinh sản

Hơn 20 năm nuôi ba ba sinh sản, anh Nguyễn Đức Lợi, ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có cuộc sống khấm khá. Gắn bó lâu năm với con ba ba một phần cũng vì sự yêu thích loài vật này, ba ba lại dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh.

• 15:40 03/03/2021

Thu trăm triệu đồng mỗi năm từ nuôi ba ba

Nuôi ba ba gai là một công việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao. Nhưng bằng ý chí, nghị lực, sự đam mê tận tụy với công việc cùng với áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật mà ông Phạm Tất Đạt ở xã Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã thành công, vươn lên trở thành triệu phú.

kỹ thuật sản xuất giống baba
• 10:00 30/05/2017

Nguyên nhân nước ao biến động mạnh sau khi thả giống

Một trong những thách thức lớn nhất trong nuôi tôm là hiện tượng nước ao biến động mạnh ngay sau khi thả giống. Đây là giai đoạn nhạy cảm, khi hệ đệm yếu, độ kiềm thấp và nguồn nước chưa xử lý triệt để dễ khiến môi trường mất ổn định, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỷ lệ sống của tôm.

ao tôm
• 12:00 14/02/2026

Đầu tư công nghệ nuôi tôm: Bắt đầu từ đâu khi vốn còn hạn hẹp?

Trong bối cảnh chi phí đầu vào ngày càng tăng, dịch bệnh phức tạp và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, công nghệ được xem là chìa khóa để nâng cao hiệu quả nuôi tôm. Tuy nhiên, với nhiều hộ nuôi quy mô vừa và nhỏ, câu hỏi lớn nhất vẫn là: nên bắt đầu từ đâu khi nguồn vốn còn hạn chế?

Ao nuôi tôm
• 00:00 13/02/2026

Vì sao nhiều ao nuôi không thành công trong tháng đầu?

Không ít vụ nuôi tôm phải kết thúc sớm chỉ sau vài tuần vì tôm ăn kém, chết rải rác hoặc môi trường nước mất ổn định. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân không nằm ở con giống mà xuất phát từ khâu chuẩn bị ao và xây dựng nền môi trường ban đầu chưa đạt yêu cầu.

Ao nuôi tôm
• 12:53 12/02/2026

Thảo dược tự nhiên trong nuôi trồng thủy sản bà con nên biết

Người nuôi ngày càng quan tâm đến giải pháp an toàn và bền vững, các loại thảo dược tự nhiên đang được ứng dụng nhiều hơn trong chăm sóc và phòng bệnh cho tôm. Không chỉ dễ tìm, những nguyên liệu này còn giúp cải thiện sức khỏe tôm và môi trường ao nuôi một cách tự nhiên.

thảo dược nuôi tôm
• 11:27 10/02/2026

Vì sao tôm có thể sống gần miệng núi lửa 450°C nhưng lại chết khi bị nấu ở 50°C?

Nghe có vẻ nghịch lý: một số loài tôm biển sâu được phát hiện sống gần miệng núi lửa dưới đáy đại dương – nơi nhiệt độ dòng phun có thể lên tới 450°C. Thế nhưng, nếu thả chúng vào nồi nước 50°C, chúng vẫn chết như bất kỳ loài tôm nào khác. Vậy điều gì đang thực sự xảy ra?

tôm không mắt
• 09:41 14/02/2026

Chủ động phòng bệnh TiLV – bảo vệ đàn cá rô phi ngay từ đầu vụ

Tilapia Lake Virus (TiLV) đang được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với ngành nuôi cá rô phi toàn cầu. Virus này có thể gây tỷ lệ chết lên tới 80–90%, lây lan nhanh và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

cá rô phi
• 09:41 14/02/2026

6 ông lớn định hình cuộc đua tôm thẻ chân trắng toàn cầu

Ngành tôm thẻ chân trắng (TTCT) thế giới đang bước vào giai đoạn cạnh tranh quyết liệt với sự dẫn dắt của 6 quốc gia chủ lực gồm Ecuador, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Thái Lan. Mỗi nước theo đuổi một chiến lược riêng: có quốc gia tập trung mở rộng sản lượng trong khi nhiều bên lựa chọn nâng cấp giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

tôm
• 09:41 14/02/2026

Đạt FTA với EU, tôm Ấn Độ gia tăng sức ép cạnh tranh lên tôm Việt Nam

Việc Ấn Độ hoàn tất đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với Liên minh châu Âu (EU), cùng lúc được Mỹ điều chỉnh giảm thuế đối ứng,...Những lợi thế mới này giúp tôm Ấn Độ nhanh chóng mở rộng thị phần tại EU, đồng thời đặt ngành tôm Việt Nam trước áp lực cạnh tranh ngày càng rõ nét.

tôm
• 09:41 14/02/2026

Thảo dược tự nhiên trong nuôi trồng thủy sản bà con nên biết

Người nuôi ngày càng quan tâm đến giải pháp an toàn và bền vững, các loại thảo dược tự nhiên đang được ứng dụng nhiều hơn trong chăm sóc và phòng bệnh cho tôm. Không chỉ dễ tìm, những nguyên liệu này còn giúp cải thiện sức khỏe tôm và môi trường ao nuôi một cách tự nhiên.

thảo dược nuôi tôm
• 09:41 14/02/2026
Some text some message..