Cách nhận biết và ngăn chặn sự bùng phát bệnh do streptococcus (Phần 1)

Streptococcus agalactiae và S. iniae là hai trong số những loại vi khuẩn có sức tàn phá mạnh nhất tác động đến ngành nuôi cá nước trên khắp thế giới, chúng gây ra những căn bệnh có thể khiến 80% cá chết.

Bệnh Streptococcus
Bệnh Streptococcus diễn ra trên một số loài cá. Ảnh: dopa.vn

Streptococcus iniae S. agalactiae là vi khuẩn gram dương gây bệnh cho cá nuôi và cá hoang dã. Chúng có hình cầu và đường kính 0,5-2,0 μm. Chúng xuất hiện thành cặp hoặc chuỗi khi phát triển trong môi trường lỏng, không di động và không hình thành bào tử. Chúng kỵ khí tùy ý, đòi hỏi môi trường giàu dinh dưỡng để phát triển và thường tấn công tế bào hồng cầu để tạo ra sự đổi màu xanh lục (phân hủy α) hoặc làm sạch hoàn toàn (phân hủy β) trên môi trường thạch máu. Cả hai loại vi khuẩn đều có thể gây lo ngại về bệnh lây truyền từ động vật sang người. 

S. iniae lây nhiễm cho những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch khi xử lý cá sống. Phân tích bộ gen so sánh của các chủng phân lập cho thấy các chủng S. agalactiae ở người có trong cá, ếch và động vật thủy sinh, do đó có nguy cơ tiềm ẩn gây bệnh cho con người. S. iniae là một trong những mầm bệnh chính ảnh hưởng đến các loài cá ở nhưng khu vực nước ấm vào cuối những năm 1990 và 2000. Hiện nay, S. agalactiae đã nổi lên như là mầm bệnh chính ở cá rô phi nuôi ở Châu Á, Latin và Nam Mỹ. Tổn thất tiền tệ hàng năm trên toàn thế giới do những mầm bệnh này ban đầu được đánh giá thấp ở mức 100 triệu USD. Chỉ riêng Trung Quốc đã chiếm khoảng 40% sản lượng cá rô phi toàn cầu (~3 tỷ USD) và các nhà sản xuất Trung Quốc đã báo cáo thiệt hại từ 30–80% do S. agalactiae. Giả sử mức lỗ trung bình hàng năm là 40%, con số đó tương đương với khoảng 1 tỷ USD doanh thu bị mất chỉ riêng ở Trung Quốc. 

Phân bố địa lý 

S. iniaeS. agalactiae phân bố trên toàn thế giới và lây nhiễm sang hơn 27 loài cá, bao gồm cả cá rô phi. Cả hai mầm bệnh đều ảnh hưởng đến các loài hoang dã và nuôi ở vùng nước ngọt, nước lợ và nước biển. 

Cá bị mắt lồiCá bị mắt lồi do nhiễm bệnh. Ảnh: aquaculture

Nguyên nhân của bệnh 

Căng thẳng thường là yếu tố ảnh hưởng chính của căn bệnh này. Một số yếu tố gây căng thẳng có liên quan đến sự bùng phát bệnh Streptococcosis bao gồm nhiệt độ nước nằm ngoài phạm vi tối ưu (24–30°C), độ mặn và độ kiềm cao, lượng oxy hòa tan (DO) thấp, mật độ thả cá cao và tỷ lệ cho ăn cao. như ảnh hưởng của việc thu hoạch (lưới và xử lý). 

Đồng nhiễm với ký sinh trùng bên ngoài (ví dụ: nhiễm ký sinh trùng Trichodina, Gyrodactylus và Ichthyophthirius) cũng rất phổ biến. 

Chẩn đoán

Dấu hiệu lâm sàng của bệnh: Các dấu hiệu lâm sàng khác nhau tùy theo loài cầu khuẩn, loài và kích thước của vật chủ bị ảnh hưởng. Nhìn chung, cá trở nên lờ đờ và bơi lội thất thường hoặc theo kiểu xoắn ốc do hậu quả của bệnh viêm màng não. Chứng lồi mắt một hoặc hai bên (mắt lồi), có xuất huyết và đục giác mạc ở mắt. Xuất huyết ở thân. Phù nề do tích tụ dịch huyết thanh trong khoang phúc mạc và ruột. Gan nhợt nhạt và tỳ tạng màu đỏ sẫm là những dấu hiệu lâm sàng phổ biến nhất. Mụn mủ ở hàm và đuôi đối với cá rô phi nhiễm S. iniae đã chết và còn sống. Các tổn thương tương tự cũng liên quan đến nhiễm trùng S. agalactiae, cùng với chứng liệt miệng.

Trong một số trường hợp, cá bị nhiễm bệnh không có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng trước khi chết và cá chết được cho là do nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng não và hệ thần kinh. Khi nhiễm trùng tiến triển, một phần đáng kể cá có thể trở nên chán ăn và không chịu ăn. Kiểm tra bên trong khoang bụng cho thấy một lượng lớn dịch có màu máu, tỳ tạng sưng to và có màu đỏ sẫm, gan nhợt nhạt và lắng đọng fibrin trong tim. Mô bệnh học cho thấy tình trạng hoại tử lan rộng và viêm u hạt ở nhiều hệ thống cơ quan, bao gồm cả đầu và thân thận. 

Cá rô phiCá rô phi

Chẩn đoán nhiễm trùng: Chẩn đoán dựa vào nuôi cấy vi khuẩn trên đĩa thạch 5% máu cừu. Thận và não của cá tươi thường là nguồn nuôi cấy vi khuẩn tốt nhất. Các hệ thống xét nghiệm nhanh thu nhỏ rất hữu ích và S. agalactiae có thể dễ dàng được xác định bằng bộ xét nghiệm API 20 Strep và API rapid ID 32 Strep. Các bộ dụng cụ thương mại có thể được sử dụng để thu được thông tin sinh hóa, nhưng không phải lúc nào cũng có thể đạt được kết quả nhận dạng tích cực chỉ với các hệ thống này. Sự xác nhận nên được thực hiện bằng phương pháp phân tử. 

Chẩn đoán sơ bộ: Chẩn đoán sơ bộ về Streptococcus có thể được thực hiện dựa trên bệnh sử và các dấu hiệu lâm sàng, kết quả kiểm tra bằng kỹ thuật kính phếch mẫu bệnh phẩm từ não, tỳ tạng, thận hoặc gan là xác định vi khuẩn Gram dương.  

Đăng ngày 22/02/2024
Hồng Huyền @hong-huyen
Khoa học
Bình luận
avatar

Sử dụng bột đậu tương lên men bằng Monascus purpureus M-32 cho tôm thẻ

Bột đậu nành (SBM), một loại nguyên liệu thay thế bột cá, được coi là nguồn protein thích hợp cho thức ăn thủy sản nhờ hàm lượng protein tương đối cao, hàm lượng axit amin cân bằng và nguồn cung cấp ổn định.

Bột đậu tương
• 12:00 16/07/2024

Vi khuẩn tím: Triển vọng cho ngành thức ăn thủy sản

Theo các nhà nghiên cứu từ Đại học Kyoto, có một loại vi khuẩn quang hợp màu tím, chỉ cần không khí và ánh sáng mặt trời để phát triển. Hơn thế, chúng còn có khả năng sản xuất nguồn thức ăn thủy sản chất lượng cao cho cá nuôi.

Vi khuẩn tôm
• 10:42 16/07/2024

Ulvan có tác dụng như thế nào với tôm thẻ chân trắng

Ulvan, một polysaccharide sunfat có trong thành tế bào của rong xanh thuộc chi Ulvale, có liên quan chặt chẽ với sự phát triển của tảo ở vùng nước ven biển và đầm phá đang trải qua quá trình phú dưỡng (Fletcher, 1996).

Tôm thẻ chân trắng
• 12:00 15/07/2024

Ứng dụng thực tế của prebiotic trong nuôi trồng thủy sản

Prebiotic hiện đang trở thành những nghiên cứu quan trọng, nổi lên vài năm gần đây trong ngành thủy sản, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về tính an toàn, bền vững và không sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm cá. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu rộng về cơ chế hoạt động, lợi ích và ứng dụng thực tế của prebiotic trong nuôi trồng thủy sản.

Prebiotic
• 10:42 09/07/2024

Nguy hiểm khó lường từ tảo sợi trong nuôi tôm thẻ

Tảo là nguồn thức ăn tự nhiên, có vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn của tôm, cá và các sinh vật khác. Tuy nhiên, sẽ chẳng có gì đáng nói nếu sự có mặt của tảo trong ao nuôi không phát triển ngày một nhiều, tác động tiêu cực đến tôm và môi trường ao nuôi. Việc hiểu và nhận biết tảo trong ao nuôi sẽ giúp người nuôi kịp thời phát hiện và có những biện pháp xử lí hiệu quả.

Tảo sợi
• 00:28 25/07/2024

Bảo quản và quản lý chế độ ăn của tôm ngày mưa

Vào những ngày mưa, người nuôi cần có những biện pháp cụ thể để bảo quản và quản lý chế độ ăn nhằm đảm bảo tôm không bị stress và duy trì năng suất cao. Dưới đây là một số hướng dẫn quan trọng về cách bảo quản và quản lý chế độ ăn cho tôm vào những ngày mưa.

Nhá ăn
• 00:28 25/07/2024

Ngành tôm trong cơn khó: đáp ứng nhu cầu giống "rẻ nhưng chất"

Ngành tôm Việt Nam đang đối mặt với một nghịch lý lớn: Người nuôi tôm mong muốn có tôm giống chất lượng cao để đảm bảo năng suất và lợi nhuận, nhưng đồng thời lại kỳ vọng giá thành tôm giống phải rẻ. Vấn đề này đặt ra nhiều thách thức cho cả người nuôi và các cơ sở sản xuất tôm giống.

Tôm giống
• 00:28 25/07/2024

Nhớt bạt xuất hiện do nguyên nhân nào?

Ao bạt là một giải pháp phổ biến và hiệu quả trong nuôi tôm nhờ vào khả năng kiểm soát môi trường nước và giảm thiểu các rủi ro từ đất. Tuy nhiên, một vấn đề mà nhiều nông dân gặp phải khi sử dụng ao bạt là sự xuất hiện của nhớt trên bề mặt nước và thành ao. Hiện tượng này không chỉ gây khó khăn trong việc quản lý ao mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm nuôi.

Vệ sinh ao
• 00:28 25/07/2024

Bão số 2: Chủ động chuẩn bị các công tác ứng phó bảo vệ tài sản và vật nuôi

Sáng sớm nay 23.7, cơ quan khí tượng cho biết bão số 2 đã giảm cường độ, giật cấp 11. Tuy nhiên cơn bão bắt đầu gây mưa lớn.

Bão số 2
• 00:28 25/07/2024
Some text some message..