Kinh nghiệm Phần Lan và quản lý chất lượng cá tra giống

Quá trình nuôi cá hồi vân tại Phần Lan cũng trải qua những giai đoạn tương tự như đối với con cá tra tại Việt Nam. Đây được xem là một kinh nghiệm quí, đáng để ngành cá tra nước ta tham khảo.

ao nuôi cá hồi vân
Hệ thống ao nuôi cá hồi vân tại Phần Lan

Tuy nhiên, nhờ có chương trình chọn giống phù hợp, chất lượng cá hồi vân Phần Lan đã được cải thiện đáng kể không chỉ về tính trạng tăng trưởng, trọng lượng mà cả về tính trạng màu sắc cơ thịt, khả năng chống chọi với dịch bệnh và thích ứng với sự biến đổi của yếu tố môi trường…

Bấp bênh chất lượng giống cá tra

Nuôi cá tra thương phẩm đạt hiệu quả cao phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó giải quyết tốt vấn đề con giống, nhất là chất lượng giống, là yếu tố tiên quyết, mặc dù giống chỉ chiếm dưới 10% tổng chi phí nuôi. Bởi vì, hiện nay chất lượng cá tra giống đang “báo động đỏ”.

Hiện nay, toàn vùng ĐBSCL có khoảng trên dưới 200 cơ sở sản xuất cá tra bột và 4.000 hộ ương cá giống. Sản lượng con giống toàn vùng đạt khoảng 2 tỷ con/năm, về cơ bản đáp ứng cho nhu cầu nuôi của cả ĐBSCL. Mặc dù vậy, hoạt động sản xuất còn mang tính tự phát, qui mô nhỏ lẻ, chạy theo số lượng, không quan tâm đến chất lượng. Ngoài ra, do thị trường cá tra nguyên liệu không ổn định đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất cá tra giống.

Theo PGS.TS. Dương Nhựt Long – Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ, nhiều cơ sở sản xuất giống cá tra hiện nay không đảm bảo các điều kiện sản xuất, kinh doanh, do đó làm cho chất lượng con giống suy giảm, gây hao hụt và làng loạt hậu quả khác trong suốt quá trình nuôi: “Tỷ lệ thành công khi ương từ cá bột lên cá giống quá thấp, chưa tới 10%, trong khi tỷ lệ hao hụt cá tra giống tại các ao nuôi thương phẩm khá cao, có thể lên đến 30-35% thậm chí có ao lên đến trên 40% nếu thả nuôi với mật độ dày. Ngoài ra, chất lượng con giống không đảm bảo, trong quá trình nuôi, dịch bệnh sẽ xảy ra thường xuyên, cá tăng trọng chậm, khiến gia tăng chi phí, giảm hiệu quả kinh tế”.

Lý giải nguyên nhân suy giảm chất lượng cá tra giống, bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng – cán bộ quản lý thủy sản tại huyện Tân Châu, Đồng Tháp cho biết: “Đặc điểm của cá tra bố mẹ là không cần nuôi vỗ vẫn có thể phát dục. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng giống cá tra. Khi diễn biến thị trường cá giống bất lợi, để giảm chi phí, hộ sản xuất không quan tâm đúng mức khâu nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng khi giá cá giống tăng hộ sản xuất lại tăng tần suất sinh sản của cá bố mẹ. Chất lượng cá bố mẹ kém thì chất lượng trứng, cá bột không đáp ứng được yêu cầu là điều hiển nhiên”.

Ngoài ra, sự thay đổi của các yếu tố môi trường, trình độ tay nghề người sản xuất cũng là những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng con giống. Ông Lương Quốc Bảo, một hộ ương cá giống tại Cần Thơ, cho biết: “Tôi bắt cá bột tại các cơ sản sản xuất có mối quan hệ lâu năm, uy tín, nhưng khi ương thì “5 ăn 5 thua”. Không như trước đây, hiện tại gần như 100% cá bột được ương nuôi trong khoảng 25-30 ngày thì phát bệnh bất kể mùa thuận hay mùa nghịch. Rõ ràng, ngoài chất lượng cá bố mẹ ra, sự thay đổi củ các yếu tố môi trường, trình độ tay nghề của người sản xuất…cần phải được xem xét nghiêm túc, vì hiện nay các cơ sở sản xuất giống lấy nguồn cá bố mẹ chất lượng tại các trung tâm giống của Nhà nước”.

Bài học của Phần Lan

Dù chỉ là một đối tượng nuôi được du nhập vào Phần Lan từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ 20, nhưng cá hồi vân đã tạo nên bước phát triển đáng kể và trở thành một trong những đối tượng nuôi chủ lực tại quốc gia Bắc Âu này.

Quá trình phát triển cá hồi vân tại Phần Lan cũng trải qua những giai đoạn tương tự như đối với cá tra tại Việt Nam. “Đặc biệt, kể từ năm 1992, khi chương trình chọn giống được triển khai, chất lượng cá hồi vân Phần Lan đã được cải thiện đáng kể không chỉ về tính trạng tăng trưởng, trọng lượng mà cả về tính trạng màu sắc cơ thịt, khả năng chống chọi với dịch bệnh, thích ứng với sự biến đổi của yếu tố môi trường….” - ông Unto Eskelinen – chuyên gia Viện nghiên cứu Thủy sản Phần Lan cho biết.

Chương trình chọn giống cá hồi Phần Lan bắt đầu được khởi động từ năm 1992 với 3 bước chuẩn bị, bao gồm nhiều hoạt động trước đó. Bước đầu tiên là đánh giá tính khả thi của chương trình, đi kèm với đó là hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu cho các quần thể cá nuôi và tìm hiểu về các chương trình chọn giống đang thực hiện. Bước 2 là nghiên cứu rà soát, đánh giá và lập kế hoạch cho chương trình. Các nghiên cứu trong bước này tập trung vào việc phân tích và đánh giá hệ số di truyền cho 10 dòng cá theo định hướng chọn giống (môi trường nuôi, tính trạng…). Bước 3 của chương trình là tạo quần đàn ban đầu. Theo đó, 4 dòng cá tốt nhất được tuyển chọn để lai tái tổ hợp qua 2 thế hệ nhằm tạo quần đàn ban đầu cho quá trình chọn giống.

Sau các bước chuẩn bị trên, năm 1992, Phần Lan bắt đầu vận hành chương trình chọn giống và đạt được nhiều thành công. Ban đầu, chương trình chỉ tập trung vào các tính trạng sinh trưởng, nhưng đến năm 2001, chương trình chọn lọc bao gồm thêm các tính trạng về ngoại hình. Dòng cá mới được chọn lọc bao gồm tính trạng thành thục muộn và nâng cao khả năng thích nghi. Năm 2004, chương trình mở rộng thêm các tính trạng liên quan đến sức đề kháng và sức sống của cá. Tiếp nối những thành công trên, những năm tiếp theo chương trình tiếp tục tập trung vào các tính trạng chất lượng, nâng cao tỷ lệ sống và được mở rộng cho chọn giống đối với các loài cá thịt trắng châu Âu khác.

“Nếu như năm 1996 trọng lượng trung bình cá hồi vân tại Phần Lan chỉ đạt 0,8 kg/con thì đến năm 2008 nhờ chương trình chọn giống, tính trạng tăng trưởng đã được cải thiện đáng kể và đạt 1,8 kg, đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Ngoài ra, hiệu quả sản xuất được nâng cao do chu kỳ nuôi ngắn hơn, hệ số thức ăn thấp, tỷ lệ sống cao…” - ông Unto Eskelinen cho biết.

Ngoài ra, để ngăn ngừa dịch bệnh lây lan giữa các trại giống cũng như trại giống với các vùng nuôi thương phẩm, Phần Lan thiết lập và kểm soát chặt chẽ các vùng sản xuất an toàn, sạch bệnh, đảm bảo ATSH tối đa. Hằng năm, các chuyên gia của Tổ chức Sức khoẻ Động vật Thế giới đánh giá hiệu quả của thú y vùng trong dịch vụ quản lý sức khỏe động vật thủy sản. Đây là một hoạt động liên tục nhằm cải thiện một cách bền vững các dịch vụ thú y hoặc thú y thủy sản với các tiêu chuẩn quốc tế và mang lại hiệu quả lâu dài. Việc đánh giá này sẽ giúp xác định được những điểm quan trọng trong kiểm soát sức khỏe động vật thủy sản.

Liên hệ với thực trạng chọn giống cá tra tại Việt Nam, ông Unto Eskelinen cũng nhận định: “Vẫn còn quá sớm để khẳng định đây có phải là mô hình tốt để áp dụng cho cá tra Việt Nam hay không, chúng ta cần có những hiểu biết, nghiên cứu sâu rộng hơn. Tuy nhiên, đây sẽ là mô hình có giá trị ý nghĩa, xứng đáng để các bạn tham khảo”.

Thương Mại Thủy Sản, 03/06/2014
Đăng ngày 04/06/2014
Đỗ Văn Thông
Nuôi trồng

FLOCponics: Sự tích hợp hoàn hảo của công nghệ biofloc và cây thủy canh

FLOCponics là một loại Aquaponics thay thế tích hợp công nghệ biofloc (BFT) với sản xuất cây trồng không sử dụng đất.

flocponics
• 15:51 07/03/2022

Mô hình nuôi ba ba lãi 300 triệu đồng/năm

Mô hình nuôi ba ba của ông Lương Thành Kỷ, ở thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp. Qua 14 năm phát triển, đến nay đàn ba ba sinh sản của ông Kỷ đã phát triển hơn 1.500 con, mỗi năm xuất bán ra thị trường từ 8.000-10.000 con giống, trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận gần 300 triệu đồng/năm.

Ba ba.
• 09:38 14/06/2021

Kinh tế ổn định nhờ nuôi ba ba sinh sản

Hơn 20 năm nuôi ba ba sinh sản, anh Nguyễn Đức Lợi, ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có cuộc sống khấm khá. Gắn bó lâu năm với con ba ba một phần cũng vì sự yêu thích loài vật này, ba ba lại dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh.

• 15:40 03/03/2021

Thu trăm triệu đồng mỗi năm từ nuôi ba ba

Nuôi ba ba gai là một công việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao. Nhưng bằng ý chí, nghị lực, sự đam mê tận tụy với công việc cùng với áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật mà ông Phạm Tất Đạt ở xã Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã thành công, vươn lên trở thành triệu phú.

kỹ thuật sản xuất giống baba
• 10:00 30/05/2017

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 14:30 16/02/2026

Nguyên nhân nước ao biến động mạnh sau khi thả giống

Một trong những thách thức lớn nhất trong nuôi tôm là hiện tượng nước ao biến động mạnh ngay sau khi thả giống. Đây là giai đoạn nhạy cảm, khi hệ đệm yếu, độ kiềm thấp và nguồn nước chưa xử lý triệt để dễ khiến môi trường mất ổn định, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỷ lệ sống của tôm.

ao tôm
• 12:00 14/02/2026

Đầu tư công nghệ nuôi tôm: Bắt đầu từ đâu khi vốn còn hạn hẹp?

Trong bối cảnh chi phí đầu vào ngày càng tăng, dịch bệnh phức tạp và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, công nghệ được xem là chìa khóa để nâng cao hiệu quả nuôi tôm. Tuy nhiên, với nhiều hộ nuôi quy mô vừa và nhỏ, câu hỏi lớn nhất vẫn là: nên bắt đầu từ đâu khi nguồn vốn còn hạn chế?

Ao nuôi tôm
• 00:00 13/02/2026

Vì sao nhiều ao nuôi không thành công trong tháng đầu?

Không ít vụ nuôi tôm phải kết thúc sớm chỉ sau vài tuần vì tôm ăn kém, chết rải rác hoặc môi trường nước mất ổn định. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân không nằm ở con giống mà xuất phát từ khâu chuẩn bị ao và xây dựng nền môi trường ban đầu chưa đạt yêu cầu.

Ao nuôi tôm
• 12:53 12/02/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 01:24 22/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 01:24 22/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 01:24 22/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 01:24 22/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 01:24 22/02/2026
Some text some message..